VŨ CÔNG – Bashir Sakhawarz – Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

0
15
Thằng bé biết
 
      Nó nhảy múa theo bài maida, giống như một con bướm lượn quanh ngọn nến. Bàn chân nó chạm đất nhẹ nhàng, hài hòa với nhịp trống. Đôi tay chuyển động như sóng. Đôi mắt lúng liếng, bắt chước các nữ vũ công Bollywood, khiến khán giả như bị thôi miên. Khi nó uốn cong cơ thể về phía trước và ra sau thì những tràng vỗ tay vang lên như sấm. Cái phòng lớn chật ních người. Còn rất ít chỗ để nhảy – để nó chạy đến tận cùng trái đất, bay qua đám mây, để vượt qua đại dương bao la. Tiếng khán giả tán thưởng rộ lên. Sự điên cuồng của đám đông gần như  lấn át cả âm nhạc. Chính nó là người tạo ra sự điên cuồng này. Nó chỉ có thể nghe thôi. Tầm nhìn của nó bị mờ đi vì cần sa và vodka. Nó không cần phải nhìn rõ lắm, chỉ đủ để nghe nhạc và những câu "Thằng bé giỏi lắm, Akram". Nó biết rằng nó đã học được nghệ thuật khiêu vũ và là người giỏi nhất trong tỉnh Farkhar. Khói cần sa làm căn phòng tối om.
         
      Kể từ khi nó mới biết tay nào phải, tay nào trái, nó  đã phải ra đường để kiếm ăn. Đôi khi nó  thấy trẻ em chơi bóng đá, đánh khăng, chơi trò trốn tìm. Những điều duy nhất nó muốn trốn là đói và  nghèo, và ở trong pháo đài của Akram, nó đang trốn, trốn chính bản thân nó.
 
      Akram không chỉ là một người cha. Cha của nó đã để lại cho nó cái nghèo và cái đói tra tấn nó. Akram yêu thương nó.
      "Tao muốn mầy là của tao mãi mãi."
      "Con là của ông."
      "Nói với tao rằng mầy là vợ của tao."
      "Vợ hả?"
 
      Và rồi một ngày Akram làm lễ kết hôn với nó. Một giáo sĩ đến dự lễ kết hôn. Ông ta khoác một chiếc khăn lớn màu xanh. Răng trên luôn cắn môi dưới và mắt thì lé. Hai nhân chứng đi kèm với ông. Trong bức ảnh đám cưới, Akram, người chỉ huy cao cấp từng chiến đấu với người Nga dưới danh nghĩa thánh chiến, có bộ râu đen  bóng được thợ cắt tỉa cẩn thận. Đôi má của ông ta mịn màng, rám nắng và hơi trơn láng nhưng ông ta đã rửa ngay trước lễ cưới. Bộ quần áo trắng truyền thống của ông được ủi phẳng lỳ. Ông ta mang một dây nịt đeo súng quanh eo của mình và chỉ lộ ra  phần bên phải, dưới áo ghi-lê. Ở bên trái ông ta là cậu bé đang đứng với mái tóc dài, son môi màu đỏ, khuôn mặt được trang điểm bằng bột trắng và má được tô quá đỏ. Nó mặc đồ con gái. Đôi mắt của nó biểu lộ sự vui mừng.
     "Cháu nghĩ đàn ông đạo Hồi không thể kết hôn với đàn ông."
     "Được chứ." Akram nhấn mạnh. "Có tiền là được và mầy không phải là đàn ông. Mầy là bạn trai của tao, là vợ tao."
 
     Thằng bé lên tám khi gặp Akram. Nó nhớ ngày đó. Chẳng biết chủ nhật, thứ hai hay thứ sáu? Nó không biết những ngày đó tên chính thức là gì. Ngày nào cũng đói khát và phải tìm thức ăn như một con chó trên đường phố. Suốt ngày nó đi xin tiền hoặc những mẩu bánh mì nhỏ,  chẳng bao giờ gặp may. Thế rồi bỗng nhiên Akram xuất hiện, với một lon Coca-Cola trong tay. Akram mời thằng bé uống nhưng nó không nói đói, chẳng nói khát. Nó chộp lấy lon  Coca-Cola, uống hết một hơi và bắt đầu ói. "Mầy có muốn mì kẹp thịt nướng không?" Akram hỏi. Nó nhìn tay Akram để xem  ông ta có đang cầm một miếng bánh mì như vậy không. Akram đưa nó đến một nhà hàng và gọi một chiếc bánh mì kẹp thịt nướng cho nó. Người hầu bàn có vẻ miễn cưỡng phục vụ bởi  nhìn thấy đôi bàn tay bẩn thỉu và quần áo rách nát của thằng bé. Ngay lúc đó, Akram làm điều gì đó khiến thằng bé sợ. Ông ta giận dữ nhìn người bồi bàn. Anh nầy run rẩy, đặc biệt là khi Akram rút khẩu súng của ông từ thắt lưng và đặt  lên bàn trước mặt anh. Thằng bé ăn ba cái bánh và muốn ở lại lâu hơn để ăn nữa khi nó đói nhưng Akram đưa nó đến xe mình và chạy nhiều giờ đến một tỉnh khác, nơi ông là người chỉ huy.
    
     Akram sống trong một pháo đài lớn với vợ con, được những người lính riêng của mình bảo vệ. Thằng bé được đưa sang một căn phòng lớn ở lối vào của pháo đài. Ở đây, nó được học nghệ thuật khiêu vũ từ các giáo viên dạy múa tốt nhất, cùng với các nhạc sĩ xuất sắc. Khiêu vũ không phải là điều duy nhất nó học được. Akram dạy nó làm tình. Lúc đầu nó rất đau nhưng sau rồi cũng quen. Nó được đào tạo để chấp nhận đau đớn trước khi được đào tạo để trở thành một vũ công và một đối tượng tình dục. Nó chẳng bao giờ nhớ quá khứ và gia đình của mình, cũng quên luôn cái nghèo đói đã tra tấn nó. Làm sao biết nơi nó ở trước khi đến pháo đài này là nơi nào? Ở đây thằng bé là vũ công giỏi nhất và Akram yêu nó.
    
     Thằng bé là báu vật ở đây.  Nó được thầy dạy múa của nó chuẩn bị trước mỗi buổi trình diễn thường kéo dài từ đầu hôm cho đến sáng. Việc trang điểm cho nó hết sức công phu. Mỹ phẩm Mascara làm cho lông mi của nó đen và dài. Đôi lông mày mỏng manh của nó trở thành hai vòm đầy. Môi tô cho dày hơn. Ông thầy mặc quần áo cho nó  nhưng danh dự cuối cùng dành cho Akram. Ông ta buộc pazaybs quanh mắt cá chân thằng bé. Chúng sẽ phát ra âm thanh theo nhịp điệu khiêu vũ. 
 
Thằng bé không biết
 
     Nó không biết nhưng mặt trăng trên đám mây, đám mây trên núi, núi trên vai trái đất, trái đất trên lưng của một con rồng biết rằng một vài năm sau, khi cậu bé mười sáu tuổi, tất cả mọi thứ sẽ thay đổi. Nhưng vào thời điểm này,  nó là mặt trăng trên mặt nước hồ bình lặng, là mặt trời ló dạng trên đám mây, là làn gió nhẹ nhàng vào mùa hè, là con chim hoàng yến, là âm nhạc. Thằng bé bước vào trái tim của bọn đàn ông và để lại dấu chân. Họ đã gặp nhiều đứa trước nó nhưng không đứa nào giống nó, một thằng từ trên trời rơi xuống, một lính đánh thuê. Nó là vua và nữ hoàng cùng một lúc, vua khiêu vũ, nữ hoàng của Akram
    
     Nhiều năm trôi qua. Nó muốn giữ thời gian bằng cách đảo ngược ảnh hưởng của nó trên cơ thể của mình bằng việc sử dụng mỹ phẩm, nhưng những cậu bé mới trở thành chủ đề của câu chuyện giữa Akram và bạn bè. Akram đã sẵn sàng tìm kiếm và thèm thuồng sự quyến rũ và ngây thơ của các cậu thiếu niên khác.
 
      Nó đã qua thời kỳ được yêu thương. Khi bước vào tuổi mười sáu  ngọt ngào, nó  nhận ra rằng cái đại dương tình cảm của Akram đã bốc hơi đột ngột  như thể tình yêu là một quả bóng trong tay của một cậu bé nghịch ngợm. Quả bóng đó đã vỡ. Tình yêu đó đã biến mất. Trái tim nó tan vỡ nhưng linh hồn nó vẫn còn sống, khiêu vũ vẫn còn sống. Nó là khiêu vũ.
 
     Một hôm nó nhận biết rằng mình đã không nhìn thấy Akram trong nhiều ngày. Như thường lệ, nó tập nhảy cho đến bữa ăn trưa và khi thấy bữa trưa đã bị hoãn lại khá lâu, nó đi ra cửa sổ và thét bảo vệ để mang bữa trưa vào. Người bảo vệ không chú ý. Anh ta không tức giận. Nó trở vào tập luyện  và khi không có tin tức gì về bữa ăn, nó lại la hét người bảo vệ. Lần này người bảo vệ đến, đứng trước mặt nó. Anh ta mở miệng nói gì đó. Không có từ nào thoát ra khỏi miệng anh nhưng đột nhiên người lính gác tát nó thật mạnh. Mắt nó muốn nổ tung ra, máu chảy dài trên mặt, cơn nóng làm cơ thể nó tan chảy, tuy vậy nó không thể xê dịch, thậm chí không một milimet.  Một giấc mơ xấu chăng? Có phải anh ta là người bảo vệ đã theo nó như một con chó trung thành? Không có thời gian để suy nghĩ. Người lính gác chụp cổ tay nó, kéo nó ra khỏi phòng và ném nó xuống phố.
 
     Trở lại đường phố như khi nó bắt đầu kiếm sống.
 
      Đó có phải là bệnh tật, hay sự cô đơn, hay là con dao của ma quỷ đã dẫn đến chỗ chấm dứt? Một đêm yên tĩnh khi bầu trời sáng tỏ, thằng bé không thể nhìn thấy những vì sao sáng. Thân xác nó nằm ở vệ đường.
 
      Nhưng ngay bây giờ chỉ có mặt trăng, đám mây, núi và trái đất biết về tương lai của nó. Ngay bây giờ nó là ông hoàng của vũ điệu, nữ hoàng của Akram. Nó mới mười bốn tuổi.
 
 *****
 
TIỂU SỬ BASHIR SAKHAWARZ
 
     Bashir Sakhawarz là một nhà thơ và nhà văn. Tập thơ đầu tiên của ông đã giành được giải nhất của Hiệp hội Nhà văn Afghanistan vào năm 1978. Sakhawarz đã xuất bản bảy cuốn sách bằng tiếng Ba Tư và tiếng Anh. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông, Maargir, The Snake Charmer đã được nhà xuất bản đưa vào danh sách dự Giải thưởng Văn học Nam Giới Châu Á.
     Các tác phẩm khác đã được xuất bản trong:
     -Tiến đến Hội nghị lần thứ 9 của Hiệp hội Châu Âu về Trung Á, Nhà xuất bản Giáo dục Cambridge, năm 2010.
     -Hình ảnh về Afghanistan, Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2010.
     -Ngôn ngữ cho một thế kỷ mới, Nhà Xuất bản W.W. Norton & Company, 2008.
     Bashir Sakhawarz là người gốc Afghanistan, từng sống ở Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Trung Mỹ. Ông đã làm việc cho một số tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Hội Chữ thập đỏ Quốc tế và NGOS (các tổ chức phi chính phủ).
     Các tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Ba Lan, tiếng Ý, tiếng Thụy Điển, tiếng Nhật và tiếng Ả Rập.
     Bashir Sakhawarz hiện đang sống cùng gia đình tại Geneva, Thụy Sĩ.
 (Theo: http://www.sakhawarz.com và http://www.eastoftheweb.com.)

Có liên quan