TRƯỚC TRẬN CÀN ĐÔNG DƯƠNG – Hồi ức Đỗ Thanh Hiền – Ghi lại La Ngạc Thuỵ

0
50

Đây cũng là phong cách làm việc của chú Tư, vì bên “chén trà quạu” không khí làm việc bớt căng thẳng và việc tiếp thu cũng thoải mái hơn. Tôi nhớ thật rõ, giai đoạn này anh Bảy Cò (tên thường gọi của nhạc sĩ Hoàng Việt) đang nặng lòng với Sinfoni “Giao hưởng Cửu Long I và II” và nhà văn Nguyễn Quang Sáng (theo anh tâm sự) thì đang gò lưng viết ngày đêm để gấp rút hoàn thành tập truyện ngắn “Bông Cẩm Thạch”, nên việc hai anh “bị UTQ” gọi đến để nhắc nhở lưu tâm đến thời sự hơn trong sáng tác của mình. Thời điểm này, theo tin tức tình báo thì Mỹ đang chuẩn bị kế hoạch càn quét diện rộng trên khắp địa bàn với tên gọi “trận càn Đông Dương”. Và việc gì đến, nó đã đến …

Đó là vào chiều ngày 29 tháng 3 năm 1970 …

Trận càn Đông Dương như những chiếc vòi bạch tuột đã vươn qua suối Mật Cật, tiến tới cửa ngõ của Tiểu ban Văn nghệ R. Để bảo toàn lực lượng, nhất là đội ngũ văn nghệ sĩ “những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa ấy”, cánh văn nghệ sĩ trẻ chúng tôi đã nhận lệnh trước đó nhiều ngày đưa các “lão” văn nghệ sĩ Thanh Nha, Phạm Ngọc Truyền, Ba Thanh Loan, Ba Thừa Vĩnh, nghệ sĩ hài Quốc Hoà… về Cứ 2 của Ban, căn cứ đặt ở tận A Long Rết. Đêm dời lên Cứ 2, trên đường “Sáu Cầu” mà tai cứ nghe tiếng bom nổ, mắt nhấp nhánh giăng sao bởi những tia chớp lửa của bom B52 rải thảm bên căn cứ cũ ở Suối Cây, Bàu Lùng Tung …

Đúng là việc gì đến đã đến thật!

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà chúng tôi thường gọi là anh Năm thân thương lúc nào cũng lạc quan: “mày bom cứ bom, ta đi cứ đi”. Có lẽ nhờ vậy mà cánh văn nghệ trẻ chúng tôi cũng “khinh thường cái chết’ thản nhiên “lưng bòng, vai súng” đưa các “lão tướng văn nghệ” hành quân lên Cứ 2 một cách an toàn. Thế nhưng, mới đến nơi chưa kịp ổn định “nơi nghỉ, chốn viết” thì khu rừng “Gò Săng Ve”, dù đã tiếp cận giáp với phum Đôn Ca Đôn bên K vắng vẻ, từ trước đến nay được coi là yên tỉnh, an toàn bậc nhất đã không còn yên tĩnh nữa rồi. Không phải do đoàn văn nghệ chúng tôi đến phá tan không khí yên lành vốn có nơi đây mà do tin dữ từ anh Ba Thạnh, Trưởng ban tổ chức Tiểu ban báo cáo lại với đoàn từ bản tin của Đài kỹ thuật báo về cho Ban Cứ 2: “ … Điểm khu vực Gò Săng Ve, từ 12 giờ ngày 01 tháng 4 năm 1970 – là tâm điểm không kích, kể cả pháo đài bay B52 …”. Nghe tin, cánh trẻ chúng tôi không kềm được buông tiếng chửi: “Tổ cha cái thằng Mỹ”. Vậy mà chị Năm Lê Giang lại cười híp mắt như “khoái” lắm vậy, buông giọng rặt Nam bộ: “Gặp nữa rồi, Thanh Hiền ơi! Đi, đi nữa mầy ơi…”.

Thay vì gấp rút tiếp tục lên đường, nhưng chúng tôi lại ngồi phệt xuống, mở bình ton nhẫn nha uống nước. Nhờ vậy mà cả đoàn bất ngờ gặp được Đội bảo vệ và vị nữ tướng Nguyễn Thị Định cũng vừa hành quân tới. Cô Ba Định, chúng tôi thường gọi vị nữ tướng duy nhất, nổi tiếng với nhiều huyền thoại ấy với ba tiếng thận thương và kính trọng đó vẫy tay gọi chị Năm Lê Giang đến dặn dò một số công việc rồi lại vội vả lên đường thẳng lên hướng Bà Thét (Brathét), hướng từ Tây Ninh lên phía đông Campuchia..

Nhìn theo đoàn xe đạp của cô Ba khuất hẳn vào rừng cây, chị Năm Lê Giang quay trở lại. Chị lại cười híp mắt, cái miệng rộng huỵch, vui vẻ chành ra: “Cô Ba nói, hai chiến đoàn tăng Mỹ ngụy đã càn đến khu Ka Rết và Mi Mốt rồi. Cánh trái thì bọn Lonnon trước đây co cụm lại, giờ cũng bung ra. Vui chữa! Giặc hai bên, ba phía kềm kẹp lại rồi … Mình đi nữa hén”. Chị Năm Lê Giang vẫn thế, vẫn giọng điệu “lạc quan tếu” dù trong cảnh “dầu sôi lửa bỏng”, phổ biến ngắn gọn, rồi lại cười. Bỗng chị nhìn quanh, rồi gọi anh Ba Thạnh đến (cả hai người nằm trong cấp ủy của Tiểu ban văn nghệ, lãnh đạo cao nhất trong thời điểm hiện tại) để bàn kế hoạch tiếp tục hành quân theo chỉ thị của cô Ba Định.

Còn đang hoạch định kế hoạch thì phía bên phum Đôn Ca Đôn có một số cán bộ K và dân chúng chạy sang vì bọn lính Lon Non cũng động binh truy lùng ráo riết cán bộ cách mạng K (Khmer Đỏ). Bất ngờ và cũng khéo làm sao tôi được gặp lại cô nữ cán bộ thanh niên Chênh Tha. Kỷ niệm một thời với cô gái Chăm trong quá trình công tác thanh niên bên nhau, cứ ngỡ đã chìm trong góc khuất ký ức chợt hiện về. Chênh Tha đẹp mặn mà của cô gái hai dòng máu Chăm và S’tiêng, với đôi mắt to, đen láy bên nụ cười mĩm, lẳng lặng nhu mì. Nếu tôi không được Chênh Tha chăm sóc, có lẽ với căn bệnh sốt rét ác tính đã vào giai đoạn cuối quật ngã khi tuổi đời tôi còn quá trẻ. Căn bệnh quái ác đó không tha bất cứ ai thường xuyên luồn rừng, ngủ võng. Tôi vướng bệnh trên đường di chuyển đến hồ Chí Phèn và mê man nóng sốt, người đã gầy rọc, đi đứng phải có người dìu. Vậy mà với món thuốc gia truyền toàn là rễ và lá cây rừng do cha nàng đào và hái mang về đã cứu sống tôi. Thuốc do nàng sắc, cháo do nàng nấu, đi do nàng dìu suốt một thời gian dài. Thế là phát sinh tình cảm trai gái luyến lưu. Chính tôi, lúc bấy giờ cũng chưa xác định đó có phải là tình yêu hay không? Nếu có thì cũng là mối tình câm do nhiều ngăn cách. Đặc biệt là rào cản giữa hai dân tộc khó mà hòa hợp nhau, nhất là trong giai đoạn cách mạng đang gặp nhiều khó khăn do Mỹ ngụy cứ liên tục tổ chức hết chiến dịch này sang trận càn khác nhằm truy quét lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh mà Tây Ninh là căn cứ địa quan trọng trong suốt quá trình kháng chiến. Giữa ta và bạn luôn hợp rồi tan, vì mỗi bên đều có nhiệm vụ riêng. Do vậy khi chia tay kỷ niệm đó cũng dễ chìm vào ký ức. Gìơ gặp lại nhau chúng tôi rất vui mừng nhưng chỉ biểu lộ qua ánh mắt và nụ cười. Hoàn cảnh hiện tại không cho phép chúng tôi đủ thời gian để ở bên nhau hàn huyên tâm sự, vì phải gấp rút hành quân. Dù cùng nhau ngược lên hướng Tây Bắc, từ Đầm Be hành quân thẳng qua Đôn Cà Đôn (Phum Dừa), nhưng ai cũng có nhiệm vụ của riêng mình, nên ngậm ngùi tách nhau. Trong sổ tay nghệ thuật tôi còn ghi:

“… Ơi Chênh Tha, có đôi cánh vàng anh,

Chim vàng anh sà xuống sàn gác nhà xưa – trước sân sứ trắng.

Nắng Chùa Tháp nắng tươi – đượm nồng hương nắng …

Rồi mai đây,

Chênh Tha về nơi nào – trong gió, trong mưa!”

Dù chỉ gặp nhau trong thoáng chốc đã phải chia tay, không hiểu tâm tình của Chênh Tha thế nào? Riêng tôi vẫn tin tưởng và thắm thiết ghi rằng:

“… Anh vững tin một ngày không xa,

Anh sẽ kết “sứ trắng” trên chiếc thuyền hoa,

Mà đưa chung thuỷ, cùng Chênh Tha theo về!”

Cho tới bây giờ … tôi vẫn thầm lặng … sống thì nhớ, có chết mang theo hình ảnh Chênh Tha với chiếc áo cộc tay đen, xà rông đậm màu, đứng yên cười lặng lẽ, nhìn theo cho tới khi chúng tôi khuất bóng. Và hình ảnh ấy đã đi vào bản vọng cổ “Nàng Chênh Tha” tha thiết do tôi sáng tác phát trên sóng của Đài Tiếng nói nhân dân TP. Hồ Chí Minh năm 1979.

Trong đoàn, sức khoẻ của anh Năm Nguyễn Quang Sáng có lẽ yếu nhất. Không hiểu anh bị bệnh gì, nhưng sau khi ra viện, tóc giữa đỉnh đầu của anh bạc trắng và dáng đi của anh cứ “lệ xệ”, nên cánh trẻ chúng tôi phải thay phiên nhau đỡ đần cho anh cái ruột tượng gạo, cái bồng chứa đầy bản thảo cùng tăng võng, để anh cùng “tụi bây tới đâu tao tới đó”.

“Ai nghe trên đường Thiên Lý,

Dưới nắng ngày – rồi trong mưa đêm!

Bước chân không hề ngơi nghỉ …

Của bao người chiến sĩ giao liên…”

 

                                       Cuối th áng 10.2009