Tiểu ban văn nghệ R – những ngày chuyển cứ – La Ngạc Thụy

0
34

Con đường từ Đầm Be đến hồ Chí Phèn, mà cánh trẻ chúng tôi gọi thành hồ “Chí Phèo”, phải qua phum Cà Đôn. Nơi đây bà con dân tộc Khmer trồng dừa nhiều hơn cây thốt nốt truyền thống nên còn gọi là Phum Dừa. Qua phum Dừa chạm ngay ngã ba Brathét (Bà Thiết). Thời điểm này, trận càn Đông Dương của Mỹ đã mở rộng lên phía Tây Bắc. Hai chiến đoàn tăng pháo Mỹ nguỵ giăng ngang tuyến đường từ Karết ngược lên Phố, rồi xẻ dọc sang Brathét, quân rải dài đến gần Thị trấn Suông Chúp. Lực lượng chúng hung hậu, trang bị vũ khí tối tân, khí thế thật hung hăng. Thế nhưng khi đổ quân đến đâu thì chúng “co cụm” lại. Nắm bắt được thế trận tuy dàn trải nhưng “co cụm” tạo nhiều khoảng hở, nên đoàn văn nghệ sĩ được lệnh phân tán mỏng, chờ đêm xuống len lỏi qua các khoảng hở đó. Do phải phân tán mỏng, đoàn quân trở nên dài “lê thê”, dù chẳng có bao nhiêu quân số, cắt đường xuyên lên rừng Giá Tỵ, hướng về Bàu Sỏi, Wát Thơ Mây … suốt cả đêm, đến 9 giờ hôm sau mới thoát ra khỏi vùng đóng quân của địch. Tưởng đã thóat ra khỏi vùng nguy hiểm, “đoàn quân lê thê” chưa kịp tập trung lại, bụng đói meo, thì nhận được tin địch đã phát hiện và xe tăng địch đã mở mủi đuổi theo.

Mẩu tin thật ngắn gọn và bay cũng thật nhanh từ cuối đoàn quân đến chị Năm Lê Giang đang dẫn dầu đoàn quân. Chị Năm chưa kịp ra chỉ thị thì cánh nhà văn Lê Văn Thảo và Nguyễn Chí Hiếu khẩn trương đến báo:

– Anh Năm Nguyễn Quang Sáng yếu lắm rồi, nếu hành quân hoả tốc, e anh Năm chịu không nổi. Chúng ta tìm cách “võng” ảnh thôi.

Bàn bạc và cử người phụ trách xong, anh Năm biết được nhất định không chịu để anh em võng đi. Anh cố lạc quan tếu:

.- Chưa hơn Trường Sơn đâu! Tao còn đi được. Tụi bây cứ lo ruột tượng gạo và bồng bị nè … Tao chỉ cần cây gậy này, bây đến đâu tao theo kịp đến đó. Đừng lo.

Rồi anh nhìn chị Năm Lê Giang, đôi mắt hướng về nhạc sĩ Lư Nhất Vũ. Chúng tôi hiểu ý, không nên để chị bận tâm nhiều đến anh em, chị đang “bận bịu” với “ông tướng ròm họ Lư” này, cũng đang là bệnh nhân cần sự chăm sóc đặc biệt của chị.

Tính nhà văn Nguyễn Quang Sáng là vậy đó. Khi chưa thật sự ngả qui, anh không cần bất cứ sự dìu đở nào. Chẳng những vậy, anh còn lo cho người khác, đặc biệt là đối với nhạc sĩ Lư Nhất Vũ.

Đoàn vượt qua cánh đồng Bàu Sỏi. Nhìn lại phía sau vẫn còn người thấp thoáng dưới ánh nắng chiều đỏ chói. Bỗng nghe tiếng súng nổ rộ lên phía cuối đoàn quân. Đoàn khẩn trương cố vượt qua khỏi cánh đồng trống trải, vừa cặp sát cánh rừng Cù Đèn thì trinh sát Mặt trận tới báo tin và thúc hối:

– Cố gắng lên các anh chị ơi! Cố gắng đi nhanh hơn nữa. Phải đến nơi an toàn trước khi đêm xuống.

Dù thúc hối nhưng giọng các anh thật vui, phấn khởi. Bởi lẽ Ban Bảo vệ căn cứ Trung ương cục gồm C100, C81 …phối hợp với một bộ phận Công trường 9 (CT9) đánh tan tác hơn 60 xe bọc thép M118 và M113 của chốt Karết nống lên chốt chặn. Tin cũng cho biết, chiều và đêm nay tất cả đều phải đặt trong tình trạng cảnh giác, bằng mọi cách để phòng ngừa phi pháo địch. Phi pháo địch nói gọn là thế, nhưng đoàn văn nghệ sĩ chúng tôi đều hiểu là trận địa pháo bầy và máy bay đánh bom rải xung quanh nơi chúng đang “co cụm” để bảo vệ trận địa chốt chặn của bọn chúng. Do vậy các cánh quân nào đang ở gần trận địa đó phải cấp tốc bằng mọi cách di chuyển càng xa càng tốt trước khi màn đêm buông xuống. Nếu như thế thì thật khó cho “đoàn quân dài lê thê” này. Bởi đầu đoàn thì thì an toàn, nhưng cuối đoàn thì đang nằm trong khu vực phi pháo địch sẽ dập bất cứ lúc nào. Lệnh truyền từ chị Năm Lê Giang xuống cuối đoàn: Người khoẻ “võng” người yếu cấp tốc băng đồng hội quân tại bìa rừng. Không hiểu do tin vui từ anh em trinh sát mang đến hay do lệnh khẩn cấp mà sức khoẻ của đoàn quân như tăng lên, kịp hội quân khi màn đêm vừa buông xuống và tiếng phi pháo địch bắt đầu rền vang, nhoáng nhoàng tia chớp phía sau lưng.

Dù đã thoát ra khỏi tầm phi pháo, nhưng đoàn văn nghệ sĩ vẫn khẩn trương tiếp tục hành quân hướng lên mục tiêu Wat Thơ Mây. Nơi đây Huyện bạn đã bố trí tiếp đoàn tại khu chợ nhỏ. Wat Thơ Mây có nghĩa là Chùa Mới cũng là cái tên kinh hoàng cho quân Mỹ nguỵ hơn hai năm sau đó.

Đó là những ngày tháng 3 năm 1970 với Chiến dịch “Tìm Diệt”, các chiến đoàn tăng của Tổng trừ bị Phủ Tổng thống do tướng Đỗ Cao Trí điều binh phối thuộc với sư đoàn 18 của tướng Nguyễn Văn Minh đáng thốc lên nhằm xoá sổ “Đầu não Việt Cộng” đang đóng quân phía đông chiến trường Kampuchia. Chúng không ngờ, tại đây chúng bị đánh tan tác, tướng Đỗ Cao Trí chết thảm khi máy bay bị trúng đạn nổ tung khi vừa đáp xuống sân bay Tây Ninh gần sát dinh Tỉnh trưởng chỉ vài trăm mét.

Wat Thơ Mây – cái tên gợi nhớ đến con đường sỏi đỏ, đổ truông dài len lỏi giữa rừng le xanh thẳm bạt ngàn với những cụm bằng lăng cố vươn lên đón ánh mặt trời để khoe những chùm hoa tím ngát. Muốn ngắm hoa phải ngước cổ lên nhìn. Thỉnh thoảng nghe mấy chú chim hồng hoàng, cao các đậu chót vót cành cao trổ giọng “tố rô, tố rô” gọi bầy. Chúng càng “tố rô” tôi càng nhớ vùng rừng bao bọc Trảng Tà Xia, Lò Gò…; bấy nhiêu. Sao bây giờ nhớ Tây Ninh quá vậy, dù chỉ xa nơi đó không bao nhiêu ngày. Tình quê hương, đất nước càng dậy lên và theo tôi suốt mấy năm đầu kháng chiến (1959 – 1960). Sổ tay tôi còn ghi:

Ly hương – Ly hương đường kháng chiến

Nghe hồng hoàng “tố rô” chạnh nhớ Tây Ninh.

 

Cuối cùng, Đoàn quân văn nghệ sĩ thuộc Tiểu ban Văn nghệ R cũng đến căn cứ mới. Gọi là căn cứ nhưng chỉ là cánh rừng nằm cách hồ Chí Phèo hai ngày đường, chẳng có hầm hào trú ẩn, thậm chí chưa có chòi trại nào khả dĩ che bớt sương gió cho những người đang ốm đau. Ngày đầu tiên đến cứ đoàn quân mệt lả, chỉ còn sức tìm nhánh cây khô đốt lửa suởi ấm và “võng giá ni long” treo ngã lưng qua đêm, cùng nhau nghe tiếng gió xao động cành lá cây rừng, nghe cả tiếng chân cọp đuổi bắt nai, nai phóng ào qua mấy cánh võng ni – long của anh Lư Nhất Vũ, chị Lê Giang, Phạm Minh Tuấn, Hồ Thị Cúc… khiến họ giật mình kêu thét: “cứu, cứu” và cả đoàn bật dậy súng trên tay lên đạn căng mắt trong tư thế sẵn sang chiến đấu với … thú rừng. Chỉ tội Tổ bảo vệ phải chong mắt suốt đêm để ngăn ngừa sự cố.

Để dễ hình dung, con đường từ căn cứ cũ đến cứ mới, là con đường nối các địa danh từ Đầm Be, Dung Rạng, Rừng Tre, thị trấn Chơ Long, đầm Phơ Lây Phông, Rừng Dương, thị xã Krachíe (Cần Ché)… thuộc Đông Bắc Kampuchia. Hồ Chí Phèn nằm chếch về phía trái Đầm Be. Nếu cắt rừng thì đi qua suối Lồ Ô, ra xóm Chàm là đến cửa ngõ đầm hồ Chí Phèn. Mặt đầm rất rộng, nướcdưới hồ trong veo. Lúc nào cũng đầy sóng gió và xuồng câu, xuồng giăng lưới… của hơn bốn mươi gia đình bà con Việt Kiều lâu đời sống quanh hồ. Con đường này cũng chính là con đường ‘TIẾP PHẨM” của bà con Việt Kiều cho cách mạng. Đoàn văn nghệ sĩ đóng quân nơi đây nếu không có tấm lòng và sự hy sinh của họ đóng góp lương thực thực phẩm thì đoàn quân chỉ biết viết lách và đàn hát này dựa vào đâu để sống trong những ngày tháng mới chuyển về căn cứ mới chưa kịp sản xuất tăng gia? Thế mới hiểu được tấm lòng của những người dân xa quê luôn hướng về cách mạng với niềm tin sắt đá: đất nước sẽ được độc lập, tự do. Cũng chính từ những tấm lòng đó đã thúc đẩy chúng tôi sáng tác hăng say hơn, để có những tác phẩm văn học nghệ thuật góp phần động viên bộ đội ta chiến đấu quên mình cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Xin ghi nhận những tấm lòng của gia đình anh Hai Tánh, chị Hai Liễu, chú Sáu Có, chú Ba Gió… và bà con sống quanh hồ.

Hồ Chí Phèn với sóng nước mênh mang, cá tôm đầy rẫy cùng với tấm lòng của bà con Việt Kiều một lòng với cách mạng. Cũng chính nơi này là nơi an dưỡng cho các văn nghệ sĩ yếu sức sau những tháng ngày chịu đựng gian lao, lâm bệnh như nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ … và cũng là nơi sáng tác lý tưởng cho những văn nghệ sĩ cần thời gian và yên tĩnh để hoàn thành tác phẩm. Nơi đây, thời đó (1970 – 1971) đón tiếp hầu như đầy đủ “anh tài” của Tiểu ban văn nghệ R, kể cả nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhà văn Anh Đức, nhà văn Trang Thế Hy, hoạ sĩ Nguyễn Văn Kính…

Suốt những ngày tháng đóng quân ở căn cứ mới, không hiểu đối với văn nghệ sĩ thời đó, bây giờ ai quên, ai nhớ. Riêng tôi thì cho đến nay vẫn đầy ắp kỷ niệm. Bởi lẽ, hầu như tuần nào tôi cũng “cuốc bộ” ra Đầm hồ. Nếu không cùng đi với hoạ sĩ Nguyễn Chí Hiếu (hiện nay là Tổng biên tập Báo Văn nghệ TP.Hồ Chí Minh) thì cũng đi với chú Ba Thanh Nha… Ra Đầm hồ để thăm các anh chị em văn nghệ sĩ yếu sức nghỉ dưỡng và cũng để chứng kiến cảnh các anh, chị lao động sáng tạo thế nào nhằm học hỏi thêm kinh nghiệm. Nhớ nhất là đợt học tập Nghị quyết về Miền Nam dành cho cán bộ trung cao và văn nghệ sĩ do chú Hai Trinh và chú Năm Trần Bạch Đằng trực tiếp triển khai, quán triệt. Nhờ vậy mà tôi gặp gỡ hầu hết cán bộ cấp cao của cách mạng và văn nghệ sĩ về học Nghị quyết đợt này. Đó là những ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1971. Sau này, mỗi lần gặp lại nhau ai cũng nhắc lại kỷ niệm với niềm cảm xúc, ghi nhớ công ơn của bà con Việt Kiều đã giúp đỡ cách mạng trong những giai đoạn khó khăn.

Và có lẽ nhớ nhất là câu nói của anh Năm Nguyễn Quang Sáng mà tôi đã khắcghi vào ký ức từ ngày mãn khoá học, trướckhi chia tay anh trở về hồ Chí Phèn:

“Chưa học thấy rãnh rời, học rồi thấy công việc bằng trời, đầu óc tay chân nào viết cho kịp đây!”.

                                    Những ngày cuối tháng 12 năm 2009.

Hồi ức Đỗ Thanh Hiền

Ghi lại La Ngạc Thụy