Thương nhớ nhà văn Nguyễn Chí Trung, người anh chí tình của văn nghệ Khu Năm

0
98
 


Nhà văn Nguyễn Chí Trung (bên trái) giao lưu, tặng bạn đọc tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út.

 

Nhiều lần nửa đêm chợt tỉnh, tôi bỗng dưng nhớ đến cơ quan cũ – Trại sáng tác Quân khu 5 của một thời bao cấp, nhớ đến nhiều kỷ niệm, những câu chuyện vui buồn, những anh em cũ và đặc biệt là người thủ trưởng, người anh Nguyễn Chí Trung – Thiếu tướng, nhà văn tài hoa và duyên dáng, nhà quản lý quyền biến của một cơ quan văn nghệ người ít mà cá tính thì nhiều.

Trại sáng tác lúc ấy như một cơ quan nửa quân sự, nửa dân sự, nửa công chức nửa tự do và có một thứ lề luật áp dụng theo kiểu nửa gia đình, nửa cơ quan, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất thoải mái và lấy tình làm gốc. Đặc biệt may mắn, chúng tôi có được ông thủ trưởng Nguyễn Chí Trung lúc nào cũng tận tụy vì tập thể và sống đầy ân tình. Ông từng giải quyết mọi sự rắc rối của cơ quan một cách êm xuôi, bằng phong cách quyết liệt song rất đỗi chan hòa. Và cũng vì vậy mà trại sáng tác lúc nào cũng sôi động, quy tụ được không ít những cây bút lừng lẫy của miền trung và Tây Nguyên.

Được ông đưa về Trại sáng tác Quân khu 5, tôi chỉ là cậu em út ít giữa những ông anh “đấng bậc”, danh tiếng nổi như cồn. Mỗi ông mỗi vẻ, mỗi ông một cá tính, chả ông nào giống ông nào. Vậy mà dưới tay chèo chống của Nguyễn Chí Trung, không khí trại viết lúc nào cũng rầm rập, vui vẻ, không phút giây bê trễ. Có thể nói, Trại sáng tác hay gọi là Trại viết Quân khu 5 cũng được, hay nhất toàn quân thời ấy. Sự ra đời và tồn tại của nó một phần do sức vóc chung của anh em và tài quản lý, “thuyết khách” của Nguyễn Chí Trung. Trại viết có những tên tuổi lớn, lớp trước lớp sau có tầng có bậc không phải do ngẫu nhiên. Đó là lớp tinh hoa của nền văn học Khu Năm đã đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, vừa hoành tráng, vừa kiêu hãnh và đang ở độ chín nhất, không thể một lúc gom về được. Đấy là cái lý của nhà văn Nguyễn Chí Trung đối với cấp trên để tổ chức và duy trì trại viết, một cơ quan nằm trong cơ chế mà thực ra là ngoài cơ chế. Cơ quan chủ quản cho lương, cho biên chế, cho nhà cửa, mới đầu là của Khu ủy Khu Năm, sau đó là của Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Về mặt chuyên môn, đường hướng có tính chiến lược lâu dài, mang ý nghĩa nền móng cho một nền văn học xứng tầm thời đại thì phải có đội ngũ sáng tác đủ mạnh để gánh vác. Đó là một trong những mục tiêu khát vọng của những nhà quản lý, chỉ huy trại viết khi ấy. Những thành viên trại viết không những phải tự khẳng định được mình mà còn phải có ảnh hưởng lớn, góp mặt cùng các vùng, miền, tạo nên diện mạo chung của nền văn học cách mạng đang đà phát triển. Thực ra hai phần ba các anh chị em “trại viên” đều đã có những tác phẩm danh tiếng tầm cỡ quốc gia. Thậm chí có một số tác giả lớn “ngang tầm thời đại” đã có sách in ở nước ngoài.

Quản lý và lo lắng cho một trại viết như vậy, đòi hỏi Nguyễn Chí Trung phải quyết đoán, nhưng cũng không kém phần mềm mại trong ứng xử. Ông lo cho anh em, không bao giờ tơ hào một tẹo tèo teo vật chất nào. Để có được một đội hình của văn học Khu Năm thời ấy quá lý tưởng, quá đẹp, có phần công sức lớn lao của người anh, người thủ trưởng Nguyễn Chí Trung của tôi. Trại viết tuy nho nhỏ, nhưng bạn bè, chiến hữu đông đảo. Ngoài Huế có cánh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ thường qua lại. Trong TP Hồ Chí Minh là cánh Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Diệp Minh Tuyền, thầy trò Nguyễn Trọng Oánh… thường xuyên đến rồi đi như người nhà. Ngoài bắc cánh “tướng tá văn nghệ” như Xuân Diệu vẫn nói, có Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Bổng, Vũ Cao, Giang Nam thỉnh thoảng lại kéo quân vào, rồi các nhà văn của báo Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân đội, Trại viết Quân đội cũng ra ra vào vào ghé thăm như một cái trạm “trung chuyển”. Nguyễn Chí Trung như vị chỉ huy toàn tuyến, lúc nào cũng bận rộn lo tuyển thêm quân, lo hậu cần cơm áo, gạo tiền, rồi lại còn phải lo cho các thành viên của trại sớm ổn định để ngồi viết và viết, đi và đi.

Nhớ lại như thế để thấy được sự tháo vát, hay lam hay làm, lo cho anh em và cấp dưới, biết phát hiện và nâng đỡ những người sáng tác trẻ của anh Nguyễn Chí Trung. Trưởng thành từ một thiếu sinh quân và làm cán bộ đại đội từ khi còn rất trẻ, ông đã bươn chải trong cuộc đời quân ngũ, vừa làm lính vừa viết văn với truyện ngắn lừng danh Bức thư làng Mực, một truyện ngắn viết về miền núi xuất sắc vào hạng nhất, dựng được không khí chiến tranh nhân dân ở vùng đất Tây Nguyên với một bút pháp độc đáo, tinh tế và hấp dẫn khiến cả làng văn hồi ấy sững sờ. Không những nổi tiếng Khu Năm thời chống Mỹ, cứu nước bằng tài viết văn, Nguyễn Chí Trung còn là một chuyên viên cao cấp quân sự hàng đầu của quân khu xuống chỉ đạo tác chiến cho các đơn vị mỗi khi có chiến dịch. Ông cũng là một cán bộ tuyên giáo tự nguyện lo về công tác chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng cho các chiến sĩ thi đua làm báo cáo thành tích, đồng thời còn là một cái kho tư liệu lịch sử về các chiến dịch lớn nhỏ của Khu Năm, một người lính xông xáo khắp các chiến trường thời chống Mỹ, cứu nước, rồi sau này là trên chiến trường Cam-pu-chia giúp nước bạn thoát họa diệt chủng, ông đã được Nhà nước và Quân đội ghi nhận phong hàm cấp tướng.

Cả cuộc đời Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung không được hưởng mấy tý thời bình mà luôn gắn liền cùng chiến tranh và cuộc sống quân ngũ. Ngay cả khi trở ra Hà Nội giữ trọng trách Đảng giao mà ông vẫn tự hướng mình sống trong không gian như một thời trận mạc, không cho phép mình hưởng chút nghỉ ngơi an nhàn, bình ổn của tuổi già. Nhưng trên hết, bỏ qua những bộn bề công việc không phải văn chương, ông vẫn là một nhà văn. Một nhà văn tài hoa, sắc sảo, đặc biệt là tài thẩm định văn chương. Ngày nhà thơ Thu Bồn sáng tác trường ca Ba-dan khát được Nguyễn Chí Trung đọc góp ý, sửa chữa, cắt tỉa mà sau này mấy anh em tôi nói vui là trường ca Ba-dan cắt. Có dao, có kéo của Nguyễn Chí Trung phát quang, tỉa cành, nó mới được đánh giá là một trong những trường ca “xuất sắc hàng đầu viết về Tây Nguyên” sau giải phóng năm 1975.

Người anh chí tình của văn nghệ Khu Năm, người thủ trưởng thân mến của tôi có một cuộc đời phong phú, từng trải chiến trận hàng nhất. Là một người lính tình nguyện hàng đầu trên chiến hào giúp nước bạn Cam-pu-chia chống bọn diệt chủng Khmer Đỏ, ông cũng là nhà văn tài năng đoạt Giải thưởng văn học Đông – Nam Á (ASEAN) năm 2011 với tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út. Đây là một thiên tiểu thuyết trữ tình giàu chất thơ, mang đậm chất nhân văn và sự yêu thương con người của một bầu nhiệt huyết không bao giờ nguôi cạn.

Có thể nói, Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung là một tấm gương trọn đời trung kiên với lý tưởng mà ông đã chọn, luôn luôn nhận về mình những hy sinh, gian khổ. Bên cạnh đó, ông còn là một nhà văn đi vào lịch sử của nền văn học nước nhà qua những trang văn đẹp đến nao lòng.

Nhà văn Nguyễn Chí Trung tên khai sinh là Thái Nguyên Chung, sinh năm 1930 tại xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang (Quảng Nam), nay thuộc TP Đà Nẵng. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; các bút danh: Nguyễn Chí Trung, Thái Nguyên, Ngọc Lĩnh, Hiền Lương, Nguyễn Thái. Các tác phẩm tiêu biểu: Bút ký Đà Nẵng (năm 1950); Bức thư làng Mực (1969); Hương cau (1975); Khi dòng sông ra đến cửa (1981); tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út (2007); tiểu thuyết Đối thoại trong đêm (2011)… Ông nhập ngũ từ năm 1946, làm cán bộ tuyên truyền bộ đội địa phương Phú Yên; biên tập viên báo Xung Phong của Ủy ban Kháng chiến miền nam; thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân (Liên khu Năm); thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng (Trung Trung Bộ); Bí thư Đảng đoàn Hội Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ; Phó Trưởng ban Văn học Quân khu 5… Sau năm 1975, ông làm Phó Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phó Chủ nhiệm Chính trị Cơ quan đại diện Bộ Quốc phòng hướng tây nam. Trước khi về hưu, ông là Thiếu tướng, trợ lý Tổng Bí thư BCH T.Ư Đảng. Ông được nhận nhiều huân chương, huy chương cao quý của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Trong sự nghiệp văn học, ông đoạt nhiều giải thưởng, trong đó tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út được trao Giải thưởng Bộ Quốc phòng (giai đoạn 2004 – 2009), Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 và Giải thưởng văn học Đông – Nam Á (ASEAN) năm 2011. Năm 2012, ông vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Bức thư làng Mực (tập truyện ngắn), Tiếng khóc của nàng Út (tiểu thuyết)…

Nhà văn TRUNG TRUNG ĐỈNH

Nguồn nhandan.com.vn