Thơ Đường với nỗi đau nhân tình thế thái. Hồng Diệu

0
142

 

 

 

Thơ Đường với nỗi đau nhân tình thế thái

Hồng Diệu


Thơ Đường là tinh hoa của nhân dân Trung Quốc, là tinh hoa của nhân loại. Nó hình thành và phát triển từ thế kỉ VII, viết bằng chữ Hán – thứ chữ vuông, xưa nay được coi là xuất phát từ Trung Hoa, và cũng được sử dụng ít hay nhiều, thời kì này hay thời kì khác, ở mấy xứ lân cận: Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam.

Gần đây, có nhà nghiên cứu ở ta cho rằng thứ chữ vuông ấy là của người Việt Nam. Nghe đâu đã có cả một quyển sách chứng minh người Việt sáng tạo và dùng chữ vuông trước, rồi mới đến người Trung Quốc và các nước khác. (Tuy nhiên, chuyện này có lẽ cần được nghiên cứu sâu hơn nữa, cần nhiều tiếng nói của các nhà nghiên cứu khác nữa, mới có thể kết luận chắc chắn được).

Dẫu vậy, dù là của ai, của ai, thì thơ Đường viết bằng thứ chữ vuông cũng đã có duyên nợ với nhân dân ta, đất nước ta tự lâu đời. Bằng một âm điệu sang trọng, với những quy ước chặt chẽ (có phần khắt khe) đủ để diễn đạt một cách nghệ thuật các sắc thái tình cảm, thơ Đường đã chiếm được cảm tình của nhiều thế hệ người đọc chúng ta.

Nhân ngày xuân, ngẫm về thiên nhiên, về con người, ta hãy xem thơ Đường đã có cái nhìn như thế nào nỗi nhân tình thế thái là hiện thực khách quan vốn tồn tại muôn đời, muôn nơi.

Bất giác, lại nhớ nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng: Trần Thanh Mại (1908 – 1965), mà có nhà nghiên cứu gọi là một học giả. Ông đã có một phát hiện, khi viết:

“Đối với người xưa, thơ cũng như rượu. Vui cũng có uống. Nhưng buồn uống nhiều hơn. Có ưu phiền mới hay làm thơ” (Trần Thanh Mại toàn tập – Nhà xuất bản Văn học, 2004, tập III, tr. 205).

Thật vậy. Hầu hết thơ Đường đều buồn. Có khi là một thứ buồn đau khổ do đói rét, bệnh tật, chiến tranh… Có khi là một thứ buồn trong sáng, xuất phát từ sự chia li, xa cách, nhớ thương… Có khi là nỗi buồn do tất cả những thứ đó, và những thứ khác nữa cộng lại.

Nhà thơ Liễu Tông Nguyên nhìn và nghĩ về thời gian, cỏ cây trôi đi trong cuộc đời mà than:

Quang âm tự đán hoàn tương mộ

Thảo mộc tòng xuân hựu đáo thu

Dịch nghĩa

Ngày tháng qua, sớm rồi quay lại chiều

Cỏ cây cứ từ xuân lại đến thu!

                (Thương việc đã qua)

Ngày xưa, ở Trung Quốc (và Việt Nam) người đời được chia làm bốn hạng, gọi là tứ dân: sĩ (trí thức), nông (người làm ruộng), công (người thợ), thương (người buôn bán). Ca dao Việt Nam đã có mấy câu vui và chí lí: “Nhất sĩ nhì nông – Hết gạo chạy rông – Nhất nông nhì sĩ”. Nhà thơ Liễu Tông Nguyên buồn cho cái cảnh tứ dân ấy không biết sinh ra trên đời này làm gì để suốt đời lúc nào cũng phải xuôi ngược lo cái chuyện mà ngày nay chúng ta gọi là chuyện “đầu tiên” (tiền đâu):

Bách dịch tịnh khu y thực nội

Tứ dân trường tẩu lộ đồ trung

Dịch nghĩa

Trăm chuyện đều trong việcăn mặc

Bốn hạng người chạy khắp các nẻo đường!

                                (Bụi đường lục nhai)

Trên con đường xuôi ngược, chạy vạy, hẳn có những người bằng mọi cách tìm lấy giàu sang, phú quý, giành lấy danh vọng. Nhà thơ Lý Bạch nhớ đến con sông Hán Thủy (ở tỉnh Thiểm Tây) chảy về hướng đông nam, để cảnh tỉnh họ:

Công danh phú quý nhượctrường tại

Hán Thủy diệc ưng tây bắc lưu

Dịch nghĩa

Nếu công danh, phú quý mà còn lâu dài

Thì sông Hán Thủy muốn chảy về tây bắc!

(Khúc ngâm trên sông)

Cũng vì bỗng hiểu ra cái chuyện công danh phú quý ấy, mà thoạt nhìn thấy màu xanh cây dương liễu bên đường – cây liễu xưa tượng trưng cho chia li – người thiếu phụ trong thơ Vương Xương Linh đã than thở và tự trách mình:

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu

Dịch nghĩa

Bỗng thấy sắc cây liễu ởđầu đường

Tiếc đã bảo chồng đi tìmtước phong

(Nỗi oán của người phòng khuê)

Lại nhớ nhà thơ Lý Thích Chi. Ông làm quan đến chức thừa tướng, về sau bị gièm pha, phải cách chức. Ông vốn hay rượu, và cùng với nhà thơ Lý Bạch là hai trong Tửu bát tiên (tám ông tiên rượu) – những người nổi danh lúc bấy giờ. Việc mà ông làm ngay sau khi bị cách chức là thỏa sức… uống rượu, và nghĩ đến thói đời, tình người:

Tị hiền sơ bãi tướng

Lạc thánh thả hàm bôi

Vị vấn môn tiền khách

Kim triêu kỷ cá lai

Dịch nghĩa

Vì kẻ ghen ghét người tài, ta vừa bị bãi tướng

Lại được thảnh thơi như một vị thánh mà nhấp chén

Chưa hỏi xem khách trước cửa

Sớm nay còn có mấy ngườiđến (với ta)?

                (Cảm tác khi bị bãi tướng)

Biết xem thường vật chất, nhà thơ nữ Đỗ Thu Nương khuyên chồng là Lý Kỳ – ông quan tiết độ sứ – và chắc cũng là khuyên mọi người nhớ đến một thứ khác quý hơn vật chất nhiều lần: tuổi trẻ. Lời khuyên thật… hiện đại, có khi người ta cho rằng nhà thơ này đã theo một thứ hiện sinh từ trên một nghìn năm trước nữa:

Khuyến quân mạc tích kim lũ y

Khuyết quân tích thủ thiếu niên thì

Hoa khai kham chiết trực tu chiết

Mạc đãi vô hoa không chiết chi

Nhà thơ Nguyễn Bính dịch thơ:

Tiếc gì áo gấm chàng ơi,

Khuyên chàng hãy tiếc lấy thời xuân xanh

Hoa tươi bẻ được, bẻ nhanh!

Chờ chi hoa rụng, bẻ cành mà chơi!

(Áo kim tuyến)

Lời khuyên chính là xuất phát từ cái chuyện “mỗi năm một tuổi, nó đuổi xuân đi” như người ta thường nói. Nhà thơ Bạch Cư Dị cũng cảm nhận điều này khi viết:

Ngã tàm mạo xú lão

Dịch nghĩa

Ta thẹn vì già, mặt xấu xí!

(Lấy gương tặng lúc chia tay)

Không biết, có bao giờ ông nghĩ như nhà thơ Tiết Phùng:

Đương niên chí khí câu tiêu tận

Bạch phát tân thiêm tứ ngũ kinh

Dịch nghĩa

Chí khí lúc trẻ, bây giờ tiêu tan hết cả

Tóc bạc lại mới mọc thêm bốn năm sợi!

                (Trường An đêm mưa)

Các bạn trẻ bây giờ chắc cũng như thanh thiếu niên muôn đời, lúc chưa bước vào tuổi già, chưa thể hiểu hết, chưa thể thông cảm nổi nỗi buồn sâu xa, mà nhà thơ Lưu Vũ Tích nói, cứ dửng dưng như không nhưng vô cùng thấm thía:

Kim nhật hoa tiền ẩm

Cam tâm túy sổ bôi

Đãn sầu hoa hữu ngữ

Bất vị lão nhân khai

Bản dịch thơ của Hồng Diệu:

Hôm nay uống trước hoa

Mấy chén say la đà

Chỉ buồn nếu hoa bảo

Không nở cho người già!

(Uống rượu ngắm hoa mẫu đơn)

Cũng thấm thía không kém, thậm chí còn thấm thía hơn, còn xót xa hơn, là cái cảnh người già về quê hương vốn là nơi mình sinh trưởng, mình quen thuộc, mình gắn bó từ nhỏ, mà bây giờ như là người lạ, như là người dưng, trong thơ Hạ Tri Chương:

Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi

Hương âm vô cải mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến bấttương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

Bản dịch thơ của Hồng Diệu:

Trẻ xa xứ, già mới về

Giọng quê không đổi, tóc thì trắng phau!

Trẻ con gặp, biết gì đâu,

Chúng cười mà hỏi ông nào đến chơi?

                (Ngẫu nhiên viết khi về quê)

Chợt nhớ một điều rất đáng lưu tâm là người đời chúng ta, dù trẻ dù già, ai cũng từng có kẻ yêu người ghét. Có khi yêu ghét xuất phát từ lí do chính đáng. Có khi yêu ghét – nhất là ghét – sinh ra từ những chuyện không đâu! Tôi chắc, mỗi khi gặp nỗi buồn bực vì những kẻ ghét mình, ghét có khi làm mình mất ăn mất ngủ hay giận dữ nữa, chúng ta sẽ được an ủi rất nhiều và rất dễ nguôi ngoai, khi đọc những câu thơ này của nhà thơ Lý Thương Ẩn:

Thế giới vi trần lý

Ngô ninh ái dữ tăng

Dịch nghĩa

Cõi đời là một hạt bụi nhỏ

Ta quản gì chuyện yêu với ghét!

                                (Bắc Thanh La)

Hình như Lý Thương Ẩn đã diễn đạt ý này từ một câu trong kinh Lăng Nghiêm (một bộ kinh Phật):

Người ở trong cõi đời như một hạt bụi nhỏ, sao cứ câu nệ việc kẻ yêu người ghét cho khổ!

Tôi xin lấy phương châm xử thế hữu dụng này tặng bạn đọc, sau khi chúng ta vừa nhìn qua một ít thơ Đường nói về một ít cung bậc của nỗi nhân tình thế thái.

                                                                                                 H.D

 

(nguồn vannghequandoi)