THĂNG TRẦM LÀNG NGHỀ TÂY NINH – La Ngạc Thụy

0
360

Làng nghề, từ lâu đã hiện hữu trong đời sống người dân Tây Ninh. Làng nghề vừa mang tên một địa phương vừa mang tên một nghề truyền thống, là một biểu tượng thân thiết ngàn đời trong lòng dân tộc. Hiện nay, dù cho làng nghề đang còn là một làng quê êm ả hay đã trở thành đô thị với nhiều phố xá, tấp nập người lại qua, làng nghề ngoài tính chất kinh tế – xã hội còn tiềm ẩn một loại giá trị khác: giá trị văn hoá vừa vật thể vừa phi vật thể. Từng làng nghề đều thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ nhau trong một mối quan hệ cộng đồng tự nhiên, dân dã thắm đượm tình người nhằm mục đích duy trì và phát triển nghề truyền thống của cha ông bao đời xây dựng nên. Có thể nói cho đến nay, dù đối diện với cơ chế thị trường đầy biến động và phức tạp, làng nghề ở Tây Ninh vẫn lưu giữ nét truyền thống và đặc trưng của làng nghề về môi trường xã hội, môi trường cảnh quan thiên nhiên như một di sản văn hoá truyền thống khá phong phú và đặc biệt là truyền thống cộng đồng, gia đình, xóm giềng… bền chặt.

Đến thăm làng nghề rèn Lộc Trác, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, một làng nghề hình thành hơn một trăm năm qua mới hiểu hết nỗi khó khăn, vất vả của người làm nghề đã phấn đấu giữ lấy một nghề truyền thống mà cha ông dày công gầy dựng. Những người cao tuổi cũng không ai biết chính xác, nghề rèn du nhập vào Lộc Trác từ bao giờ và ai là người truyền dạy cho dân làng, chỉ biết rằng tại đây có nhiều gia đình theo nghề rèn trên dưới bốn đời. Điều ghi nhận đầu tiên là hình ảnh người thợ rèn mặt mày nhem nhuốc bụi than đứng thổi bễ lữa đã không còn nữa, mà được thay bằng chiếc mô – tơ gắn quạt, máy dập thay tay quay, máy mài thay dũa tay … và hiệu quả của việc “cơ khí hoá” này đã vừa giải phóng sức lao động cho người thợ, vừa tăng năng suất, chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Vợ chồng anh Đặng Quang Vinh mới vừa tròn bốn mươi tuổi mà đã có hơn hai mươi năm gắn bó với nghề. “Cứ tưởng bỏ nghề rồi chớ!”. Anh Vinh tâm sự và qua anh tôi hình dung trên từng cánh đồng hiện nay đã xuất hiện nhiều loại máy nông cụ và trong từng nhà đã sử dụng một số sản phẩm sản xuất theo quy trình công nghệ tiên tiến. Những vật dụng được rèn từ bàn tay tài hoa của người thợ dù có khéo đến đâu cũng trở nên thô kệch, giá thành cao, dẫn đến ế ẩm, nhiều hộ phải bỏ nghề chuyển sang làm việc khác. Nếu như không có tâm huyết của người làm nghề và sự hỗ trợ của địa phương kịp thời, có lẽ làng nghề Lộc Trác đang trên đà mai một.

Người dân Tây Ninh có ai không biết “Phố đồ gỗ” đóng trên địa bàn xã Hiệp Tân, huyện Hoà Thành tồn tại từ những năm 40 của thế kỷ trước. Làng nghề có từ lâu lắm”. Đó là lời khẳng định của ông Nguyễn Văn Triệu năm nay đã bảy mươi tuổi, ngụ ấp Hiệp An xã Hiệp Tân huyện Hoà Thành. “Quê tôi ở tận Đồng Tháp, gia đình tôi chuyển về đây lập nghiệp từ năm 1947. Khi đến đây, vùng đất này dân cư thưa thớt, còn cả những cánh rừng bạt ngàn, thế mà đã có vài ba trại mộc”. Qua lời kể của ông Triệu thì hầu hết thợ mộc thời đó và hiện nay đều là dân miền Tây nam bộ. Nghề mộc là nghề truyền thống có nguồn gốc chính xác từ làng “Thủ công mỹ nghệ Long Xuyên”. Trước đây, các cửa hàng đồ gỗ phần nhiều vừa là trại mộc, vừa là cửa hàng trưng bày, mua bán sản phẩm. Nay thu hút thêm một số người đầu tư vốn kinh doanh các mặt hàng đồ gỗ của địa phương và mặt hàng trang trí nội thất do TP.Hồ Chí Minh sản xuất.

 Trên đường Lạc Long Quân, ngoài hơn năm mươi cửa hàng trang trí nội thất nằm hai bên dãy phố, phía sau có trên một trăm trại mộc với hàng ngàn thợ mộc, thợ chạm khắc, thợ tiện gỗ, thợ đánh bóng, sơn vẹc-ni … đa số đều có tay nghề “cha truyền con nối”. Một số cửa hàng và trại mộc hiện nay đã trang bị đầy đủ các thiết bị máy móc để tăng năng suất sản xuất và giải phóng khá nhiều sức lao động của những người thợ qua máy bào, máy cưa, máy khoan … Những người thợ không còn gò lưng bào, cưa, đục tốn nhiều công sức như ngày xưa nữa. Tay nghề họ thể hiện trên sản phẩm bằng trí sáng tạo nhiều hơn tay nghề thủ công. Phố đồ gỗ chẳng những tạo việc làm cho nhiều lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm mà còn “nuôi sống” các cửa hàng “cắt kiếng”, bán phụ liệu nghề mộc như đinh, bản lề, ê ke, ổ khoá, ván ép…; các loại phụ gia đánh bóng gỗ, keo dán, kiếng thờ… đặc biệt là lực lượng xe lôi chuyên vận chuyển sản phẩm đến tận nhà khách hàng.

Phố đồ gỗ đã nổi tiếng hơn nửa thế kỷ qua, sản phẩm phong phú, đa dạng về mẫu mã đáp ứng đủ cho nhu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh từ mặt hàng bình dân cho đến các mặt hàng cao cấp, đồ gỗ văn phòng …  Ngoài việc sản xuất các mặt hàng truyền thống bằng gỗ quý, hiện nay phố đồ gỗ còn nhạy bén sản xuất các mặt hàng giả gỗ và nhôm. Các cửa hàng lớn còn cung ứng cho các cửa hàng vệ tinh ở các huyện, thị trong tỉnh và thông qua thương lái, chuyển dần xuống miền Tây Nam bộ qua đường sông và miền Đông Nam bộ qua đường bộ.

Sản phẩm gỗ là một loại gia dụng cần thiết mang tính thẩm mỹ và tiện dụng để trang trí nội thất, làm tăng thêm nét sang trọng và nâng cao trình độ hưởng thụ văn hoá cho người dân, nhất là trong giai đoạn đô thị phát triển, nhiều nhà tường, phố cao tầng mọc lên, nhu cầu cuộc sống ngày càng đòi hỏi càng nhiều sản phẩm từ gỗ. Những người thợ luôn nghiên cứu thay đổi mẫu mã hầu tiếp cận với thị hiếu thương trường. Nhờ vậy, sản phẩm của họ làm ra luôn được khách hàng ưa chuông. Tuy nhiên khó khăn hiện nay là nguyên liệu gỗ tại chỗ rất thiếu, nhất là các loại gỗ quí khiến cho các cửa hàng phải chuyển dần sang sản xuất các mặt hàng bằng vật liệu mới thay cho gỗ, tuy vẫn đảm bảo nét thẩm mỹ, tài hoa, nhưng tuổi thọ không cao, không đảm bảo được tính “càng lâu càng quý” của gỗ. Để duy trì và phát triển một nghề thủ công đặc sắc, đáp ứng cho nhu cầu mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời nuôi sống hàng ngàn con người, Nhà nước cần có một chủ trương thích hợp để họ được tận tâm, tận lực với nghề.

Đến ấp Long Bình xã Long Thành Nam thăm làng đan cần xé, một nghề đan đát truyền thống hình thành từ khi con người có nhu cầu chứa đựng nông sản làm ra. Nghề đan đát nói chung và nghề đan cần xé nói riêng hiện đang gặp phải khó khăn. Từ khi công nghệ hoá nhựa phát triển, những vật gia dụng bằng tre trúc được thay bằng nhựa và nhất là nguyên liệu tre trúc ngày càng khan hiếm, giá cả ngày càng tăng, ảnh hưởng lớn đến nguồn thu nhập.  Anh Phạm Văn Búp Chủ tịch UBND xã Long Thành Nam trăn trở: “Làng nghề đan cần xé Long Bình hiện có hơn năm mươi hộ làm nghề sống tập trung, giải quyết nhiều việc làm cho người dân địa phương từ trực tiếp lao động cho đến thu mua nguyên liệu. Hai năm qua, chúng tôi đã thành lập Hợp tác xã mây tre số 1 xã Long Thành Nam, tạo thêm điều kiện để làng nghề phát triển. Thế nhưng, hiện nay do thiếu nguyên liệu nên làng nghề đang gặp nhiều khó khăn, vượt quá tầm tay của chính quyền cấp xã”. Anh Huỳnh Thiện Huấn Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã cho biết thêm: Ngoài tạo việc làm cho lực lượng lao động thường nhật trên địa bàn, số hộ gia đình có con em làm ngành nghề khác có thể tranh thủ để làm thêm nhằm tăng thu nhập cho gia đình. Bởi đan cần xé có nhiều công đoạn, trong đó có nhiều khâu đơn giản phù hợp với mọi lứa tuổi, như khâu vót, chẻ nan dành cho trẻ em, người lớn tuổi “. 

 Có một nơi không cần hỏi thăm ai, chỉ nghe âm thanh “chan chát” rền vang khắp xóm thì biết đây là làng gò nhôm Hiệp Ninh, thị xã Tây Ninh hình thành khoảng nửa thế kỷ qua, tập trung nhiều nhất ở khu phố Hiệp Lễ truyền nghề theo lối “cha truyền con nối”. Hơn năm năm trở về trước nhịp độ sản xuất ở đây thật khẩn trương, nhưng hiện nay không khí sản xuất có vẻ im ắng hơn vì theo bà con làm nghề thì thị trường sản phẩm gò nhôm hiện nay đang thu hẹp dần … Trước đây, bà con chuyên gò tôn thiếc làm thùng, gàu dùng để xách nước, gắn thêm “búp sen” để tưới rau màu và các loại gáo múc đường cho các lò đường thủ công. Từ ngày các loại sản phẩm cùng loại làm bằng nhựa chiếm lĩnh thị trường, đồng thời các nhà máy đường với công suất lớn mọc lên, lò đường thủ công phải “tắt lửa”. Các mặt hàng thùng thiếc, gáo đường trở nên ế ẩm bà con chuyển sang gò chảo bằng hợp kim nhôm. Làng “gò thiếc” trở thành làng “gò nhôm” từ đó.

Tuy vậy, anh Lê Phước Tấn Chủ tịch Hội Nông dân phường Hiệp Ninh vẫn lạc quan: “Làng gò nhôm hiện nay có ba mươi sáu cơ sở sản xuất, mỗi cơ sở có từ bốn đến bảy thợ gò và thợ chà láng, chưa kể đội ngũ hàng trăm người mang hàng đi bán khắp nơi, giải quyết một số việc làm đáng kể cho người dân. Tuy hiện nay thị trường sản phẩm gò nhôm đang thu hẹp dần, làng nghề sản xuất ít sản phẩm hơn nhưng bà con vẫn còn sống được với nghề. Nguyên nhân sự giảm dần sản phẩm tiêu thụ này là do đời sống ngày càng nâng cao, máy bơm điện thay cho gàu xách nước, bếp ga thay dần bếp đun củi và “chảo không dính” bằng Inox sản xuất công nghiệp thay dần chảo nhôm sản xuất thủ công”.

Đúng là, mấy năm qua đến các ngày lễ vía, các ngã đường xung quanh Toà thánh Cao Đài Tây Ninh không còn cảnh nhộn nhịp bán buôn các sản phẩm gò nhôm cho khách tham quan như trước nữa. Anh Trần Văn Nghiêm, chủ một cơ sở có ba người thợ cho biết: “Muốn gò thành những sản phẩm nhôm phải qua nhiều công đoạn: ra “vóc”, cắt, nung, gò, chà láng … Tất cả đều làm thủ công, đặc biệt là khâu chà láng rất quan trọng. Riêng mặt hàng chảo phải có độ bóng và không dính khi chiên. Khách hàng còn ưa chuộng chảo nhôm gò tay là ở khâu này”. Thiết bị gò nhôm gồm  những phiến gỗ trai được đục lõm theo kích thước lòng chảo, bàn cắt nhôm, và một số đục, búa chuyên dùng … Nhìn những người thợ ngồi gò từng sản phẩm dưới mái tôn nóng hầm hập, mới thấy được cảnh gian nan, vất vả và tính kiên trì, chịu khó của những người làm nghề. Có nhìn tận mắt những sản phẩm được gò hoàn chỉnh từ khâu đầu đến khâu cuối mới thấy hết sự khéo léo, tỉ mỉ từ đôi bàn tay người thợ. Đa số các cơ sở gò nhôm ở làng nghề này đều xuất bán sản phẩm về miền Tây Nam bộ và sang Campuchia, một phần bày bán cho khách tham quan khi đến viếng Toà thánh Cao Đài. Anh Bùi Thành Viên, ba mươi lăm tuổi đời, hơn mười lăm năm làm nghề, xuất thân là thợ gò gia công, sau mới mở cơ sở sản xuất, tâm sự: “Dù hiện nay sản xuất có giảm sút nhưng vẫn còn sống được. Coi vậy chứ bà con mình vẫn còn chuộng loại chảo nhôm này, vì ở miền Tây vẫn còn nhiều nhà sử dụng than, củi trong nấu nướng, nên chiếc chảo nhôm gò thích hợp hơn. Không ai để chiếc chảo không dính bằng Inox trên chiếc bếp củi bao giờ”.

 Theo anh Viên thì so với gò thiếc trước đây thì gò nhôm phức tạp hơn nhiều, nhất là khâu nung nhôm. Nếu nung không đúng lửa nhôm giòn dễ nứt khi gò, mà nhôm nứt thì trở thành nhôm phế thải bán theo giá “ve chai”. Chính khâu nung nhôm là bí quyết riêng của từng người thợ qua kinh nghiệm nhiều năm làm nghề.

Theo thống kê của Phòng Kinh tế huyện Hoà Thành  thì làng nghề đúc gang Trường Hoà chỉ có mười hộ tập trung tại Tổ 7 ấp Trường Thọ, xã Trường Hoà.Thế nhưng mỗi hộ là cả một cơ ngơi, bên cạnh căn nhà tường khang trang đầy đủ tiện nghi là một dãy lán trại làm nơi đúc khuôn, ngoài sân ngổn ngang nguyên liệu là những chiếc “blốc” máy cũ và đủ loại phế liệu bằng gang. Mỗi cơ sở có trên dưới mười người thợ với mức thu nhập bình quân là 1,2 triệu đồng/tháng, cao nhất hơn 2 triệu đồng/tháng. Hình ảnh các hộ “y một khuôn đó” đó chứng tỏ làng đúc gang đang “ăn nên làm ra”.

Ong Lê Văn Chí Chủ tịch Hội Nông dân xã Trường Hoà cho biết: “Làng nghề đúc gang này có đặc điểm thực sự là nghề “cha truyền con nối” vì hầu như chỉ truyền trong dòng họ, những hộ trong làng đều là bà con với nhau”. Theo ông Lê Ngọc Anh Chủ cơ sở đúc gang Ut Anh, năm nay đã năm mươi lăm tuổi thì dòng họ ông làm nghề đúc gang này từ thời nào không rõ ở Biên Hoà tỉnh Đồng Nai, chỉ biết khi ông nội anh chuyển sang đây lập nghiệp từ những năm 40 của thế kỷ trước đã làm nghề đúc gang rồi, truyền đến anh đã ba đời và anh đang tiếp tục truyền cho con. Được biết ban đầu làng nghề chỉ đúc lưỡi cày cho bà con nông dân, đến những năm 70 mới chuyển sang đúc những phụ tùng, thiết bị máy móc công nghiệp bằng gang, đặc biệt là đúc xi-lanh máy xe Hon đa, được thị trường TP. Hồ Chí Minh đánh giá có chất lượng cao. Có tận mắt nhìn những sản phẩm do làng nghề sản xuất mới “nể phục” tay nghề của những người thợ. Bởi lẽ tất cả đều làm thủ công và chất lượng thì không có thiết bị đo lường, chỉ đo bằng kinh nghiệm và bằng mắt; riêng công đoạn hoàn thiện sản phẩm mới dùng đến máy tiện. Tiếc là khi chúng tôi đến thăm không đúng vào giai đoạn nấu gang. Bởi lẽ mỗi tuần làng nghề mới nấu gang một ngày sau cả tuần làm đủ loại khuôn đúc sản phẩm theo đơn đặt hàng từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh.

Để hoàn thành sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn. Nặng nề và vất vả nhất là công đoạn chuẩn bị nguyên liệu. Những người thợ phải chọn từ đống phế liệu nằm ngổn ngang ngoài sân, nhất là những chiếc “blốc” máy các loại xe ô tô và máy bơm nước  nặng nề. Vậy mà những người thợ phải đập ra từng mảnh nhỏ bằng búa tạ để bỏ vào lò nấu. Trong lúc đó những người thợ khác thì làm tất cả các loại khuôn bằng đất, chuẩn bị sẵn để khi gang nấu xong có khuôn để đổ vào. Việc nấu gang tưởng như đơn giản, thực chất đó mới là ngón nghề “bí truyền”. Cuối cùng là công đoạn tiện những sản phẩm thô thành sản phẩm hoàn chỉnh. Sản phẩm làm ra của làng nghề là những chiếc xi lanh máy Hon da, khuôn ép gạch, vỏ máy bơm điện, thiết bị bơm nước và các loại phụ tùng, thiết bị máy móc bằng gang khác mà người ngoài ngành không thể gọi tên được. Nhiều sản phẩm được trưng bày tại các hội chợ, các cuộc triển lãm trong và ngoài tỉnh được đánh giá cao và những sản phẩm này đều sản xuất theo đơn đặt hàng nên làng nghề không lo đầu ra. Điều lo lắng nhất của làng nghề hiện nay là không đủ vốn đáp ứng theo đơn đặt hàng ngày càng nhiều. Ong Võ Văn Hạnh Phó Chủ tịch UBND xã Trường Hoà cho biết: “Nhu cầu vốn của làng nghề khá lớn, địa phương cũng không thể nào đáp ứng được. Chỉ mới hỗ trợ được một phần nhỏ là 100 triệu đồng cho năm hộ theo dự án “Phát triển nghề đúc gang” của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tạo việc làm cho ba mươi lao động của hộ làm nghề và giải quyết việc làm mới cho hai mươi  lao động của địa phương. Sắp tới đây, khi cụm công nghiệp Trường Hoà hình thành, hy vọng sẽ có sự ưu tiên cho làng nghề về mặt bằng và những chính sách hỗ trợ khác”.

Khi được hỏi vì sao nghề đúc gang không truyền cho người ngoài dòng họ? Ong Lê Ngọc Anh ưu tư: “Không phải chúng tôi giấu nghề, mà do nghề đúc gang chỉ truyền bằng kinh nghiệm truyền đời, chứ không có bí quyết nào cả. Là con cháu trong nhà mới có điều kiện thời gian theo dõi học kinh nghiệm, người ngoài thì không có điều kiện đó. Bởi các khâu làm khuôn, nấu gang rất khó khăn, phải theo dõi từng giờ, từng phút, học từng chút, tích luỹ dần kinh nghiệm mới làm nghề được. Tất cả các công đoạn, tôi cũng đều hướng dẫn thợ làm đó chứ, vậy học vài năm thì chưa thể làm được, mà có ai chịu theo theo học cả đời?!”

Có lẽ chỉ nghề chằm nón lá là còn giữ lại nét văn hoá truyền thống của dân tộc từ khâu chằm hoàn toàn thủ công đến mẫu mã vẫn giữ được dáng xưa, gắn liền với hình ảnh phụ nữ Việt Nam như một nét văn hoá đặc trưng của dân tộc. Đến thăm làng nghề ở xã Ninh Sơn thị xã Tây Ninh, trên các con đường trong xã, vào những ngày nắng ráo nổi lên một màu trắng xoá lá mật cật, loại lá dùng để chằm nón phơi đầy hai bên lề đường. Và hầu như với hơn năm trăm hộ làm nghề nhà nào cũng có trồng vài bụi trúc trong sân nhà hoặc trồng thành hàng rào bao quanh vườn tạo nên cảnh làng quê không nơi nào có được. Đây chính là nguồn lợi không nhỏ cho người làm nghề vì không phải mua. Bà Bùi Thị Trầm ngụ ấp Ninh Thọ, năm nay đã ngoài tám mươi tuổi cùng hơn sáu mươi  năm miệt mài ngồi chằm nón khiến lưng bà còng xuống cong như ngọn trúc. Không biết bà than thở hay tự hào với nghề mà gia đình bà đã gắn bó từ quê hương Bình Định và bà mang theo vào đây từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước: “Cực lắm chú ơi! Nó đeo đẳng gia đình tôi  suốt cả đời người”. Đúng là “cực” khi nghe bà kể về nghề. Lá mật cật được mua lại từ những người chuyên đi cắt tận những cánh rừng dọc theo biên giới. Lá phải luộc trước khi phơi, sau khi khô mang vào trữ, mỗi ngày mang một số ra phơi sương sớm cho lá dịu đi, rồi vạch lá vuốt cho thẳng trong lòng chiếc chảo gang đặt trên mẻ lửa nóng rồi lợp lên mô nón hình chóp. Trúc tươi được chẻ nhỏ ra, vót tròn thành cọng lớn hơn chân nhang cột lại thành vành tròn cài lên mô nón. Lá được lợp lên từng lớp rồi tỉ mỉ chằm từng mủi kim cho đến khi thành chiếc nón. Cuối cùng quét lên một lớp dầu bóng rồi mang đi bỏ cho vựa thu mua chuyển đến người tiêu dùng khắp nơi trong và ngoài tỉnh. Người chằm giỏi và chuyên nghiệp có thể chằm năm chiếc nón trong ngày, thu nhập khoảng 30.000 đồng. Nông dân tranh thủ thời gian nông nhàn cũng chằm được hai chiếc tăng thêm thu nhập. Các cháu học sinh gái tranh thủ lúc rỗi rãnh chằm thêm cũng có tiền mua quần áo, sách vở, nhẹ gánh lo cho các bậc cha mẹ. Đến Ninh Sơn vào những ngày chủ nhật hoặc những tháng hè sẽ thấy hầu như tất cả học sinh nữ đều tranh thủ chằm nón tạo nên bức tranh thơ mộng trong từng mái hiên nhà và dưới tàng những bóng cây râm mát.

Nón lá là loại gia dụng rẻ tiền mau hỏng, thông dụng để che mưa nắng khi lao động ngoài đồng ruộng và làm đẹp cho phụ nữ nên đầu ra rất ổn định. Sống với nghề không lo thất nghiệp chỉ lo không có thời gian rảnh rỗi để làm nghề. Anh Nguyễn Quang Minh, Phó Chủ tịch UBND xã Ninh Sơn khẳng định: “Nghề chằm nón lá ở Ninh Sơn chẳng những giúp người dân có cuộc sống ổn định mà còn giúp những hộ kinh doanh nón tăng thêm thu nhập vươn lên khá giả, an ninh trật tự đựơc đảm bảo, vì ai cũng có việc làm”.

Trong quá trình đi thực tế tìm hiểu về làng nghề. Có một điều khá thú vị là xã Long Thành Bắc, huyện Hoà Thành có thể nói là một xã đa nghề. Đặc biệt trong xã có một ấp có đến ba làng nghề. Đó là ấp Long Tân với các làng nghề sản xuất nhang, sản xuất sản phẩm từ mây tre và may mặc , doanh thu hàng năm hơn 7 tỉ đồng. Điều lý thú là các làng nghề ở đây đúng nghĩa là làng nghề vì tất cả các hộ cùng nghề dù ít hay nhiều đều sống tập trung theo từng khu vực. Ngoài trừ nghề làm nhang là nghề truyền thống có từ những năm 40 của thế kỷ trước, các nghề sản xuất sản phẩm từ mây tre và may mặc mới hình thành hơn năm năm qua.

Nghề xe nhang hiện diện khắp nơi trên địa bàn huyện Hoà Thành, chỉ riêng ấp Long Tân các hộ làm nghề mới sống tập trung với hơn năm mươi hộ. Theo chị Trần Thị Ngọc chủ một sơ sở sản xuất có hơn bốn mươi năm làm nghề thì hiện nay ở làng nhang này đang sản xuất khoảng mười chủng loại được người tiêu dùng ưa thích và có sức tiêu thụ mạnh.  Trên thực tế nhang Long Tân chiếm lĩnh thị trường các nơi nhưng lại mang thương hiệu nơi khác. Bởi lẽ, những năm qua, hầu hết các hộ sản xuất nhang ở đây đều sản xuất thành phẩm nhang trần cho các cơ sở sản xuất ở TP.Hồ Chí Minh. Các cơ sở này gia công vô bao bì, dán nhãn hiệu và xuất ngược về Tây Ninh cũng như đi các tỉnh miền Tây nam bộ, sang cả thị trường Campuchia. Do vậy cuộc sống của hộ làm nhang vẫn không vươn lên được.

 Có thể nói làng nghề may mặc Long Tân phát triển nhanh nhất và rõ nét làng nghề nhất trong các làng nghề. Bởi lẽ, chỉ trên đoạn đường hơn 500 mét mà có đến ba mươi sáu hộ làm nghề nằm liền kề nhau. Anh Nguyễn Văn Tuấn Chủ tịch Hội Nông dân xã Long Thành Bắc cho biết: “Ban đầu nơi đây chỉ có vài ba hộ hành nghề, sau phát triển dần lên toàn ấp, nhưng tập trung nhiều nhất là ở đoạn đường này”. Tại cơ sở của anh Trương Văn Đức với mười hai máy may, trong đó có bốn máy công nghiệp, là cơ sở sản xuất có năng suất cao nhất trong làng nghề. Anh đưa tay chỉ những người thợ đang gò lưng bên máy may và cho biết: “Những thợ may này chỉ gia công may hoàn thành sản phẩm, trả công theo sản phẩm là 2.000 đồng/bộ. Tuỳ theo tay nghề, bình quân thu nhập 20.000 đồng/ ngày, có thợ may đến 20 bộ/ngày thu nhập từ 40.000 đồng/ngày”.

 Còn làng nghề sản xuất sản phẩm từ mây tre cũng mới hình thành hơn năm năm qua ở tổ 42 ấp Long Tân. Ban đầu chỉ có một cơ sở sản xuất của anh Nguyễn Đăng Khoa nay đã phát triển thêm mười hai hộ và chính anh Khoa là người đi học nghề về phổ biến và phát triển làng nghề. Từ một người chân đất, sau hơn mười năm vừa đi làm thuê kiếm sống vừa học nghề ở làng nghề ấp Long Kim xã Long Thành Trung và sau hơn bốn năm mở cơ sở sản xuất, anh Khoa đã trở thành triệu phú với  cơ sở sản xuất trị giá hơn 300 triệu đồng, thu nhập hàng năm từ 30 đến 40 triệu đồng.Từ tấm gương và sự giúp đỡ của anh Khoa một số bà con sống chung quanh đã mạnh dạn mở cơ sở sản xuất và hình thành làng nghề.

Nhìn toàn cảnh, làng nghề Tây Ninh như bức tranh vân cẩu. Không chỉ ngắm nhìn mà còn phải nghe mới thấm sâu hết nỗi thăng trầm của làng nghề. Đối diện với mặt trái của cơ chế thị trường, làng nghề Tây Ninh đang có những bước chuyển từ làng nghề cổ truyền đến hiện đại. Cảnh quan đã hiện rõ dấu ấn đô thị hoá với tốc độ nhanh. Nhiều nhà tường, nhà ngói đủ kiểu dáng đã mọc lên cùng với những trụ ăng-ten truyền hình cao vút. Lao động thủ công của người thợ đã được thay dần bằng những thiết bị máy móc. Làng nghề đang từng bước tiến lên công nghiệp hoá cho kịp thích ứng với yêu cầu thị trường. Chính quyền địa phương nào cũng rất quan tâm đến làng nghề. Đi đến đâu cũng nghe địa phương nói về việc hỗ trợ các làng nghề bằng cách giúp đỡ kỹ thuật, cho vay vốn, xúc tiến thương mại, mở rộng giao dịch … để các làng nghề tồn tại và phát triển. Điểm nổi bậc chung nhất là làng nghề nào cũng tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương, kéo giảm tình trạng thất nghiệp ở nông thôn. Đây quả là một định hướng tốt. Tuy nhiên, ở đâu cũng nghe các chủ cơ sở than thiếu vốn, kỹ thuật thì lạc hậu theo truyền thống “cha truyền con nối”, giao dịch buôn bán còn hạn chế…

Có thể tách biệt làng nghề thành hai lĩnh vực: sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ và mặt hàng công nghiệp. Lĩnh vực thủ công mỹ nghệ mang tính đặc thù đòi hỏi tay nghề thủ công, nên máy móc sẽ không thể làm thay tay nghề người thợ ở mọi công đoạn như chằm nón lá, gò nhôm, đóng giường ghế tre, làm nhang, làm đũa… Lĩnh vực công nghiệp có sự hỗ trợ của máy móc để có thể sản xuất đại trà như ngành gạch ngói, vật liệu xây dựng, thiết bị phục vụ nông nghiệp. Tất cả đều ở qui mô vừa và nhỏ. Riêng lĩnh vực sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay có đặc trưng sản xuất là duy trì nếp sản xuất ở qui mô vừa tầm, qui mô mà mỗi cơ sở làm ra sản phẩm có thể phát triển đến giới hạn tối đa của nó.    

Trước thực tế đó, thời gian qua, nhiều địa phương đã tiến hành vận động họ thành lập tổ liên kết sản xuất hoặc hợp tác xã để có điều kiện hỗ trợ như xã Long Thành Bắc huyện Hoà Thành có đến ba Hợp tác xã ngành nhang, mây tre, may mặc. Đặc biệt Ngân hàng chính sách xã hội trong tỉnh đã tiến hành hỗ trợ vốn cho một số nghề truyền thống như gò nhôm, may mặc, mây tre, đồ gỗ trang trí nội thất…để mua sắm nguyên vật liệu và các hội, đoàn được sự hỗ trợ kinh phí của trung ương mở ra các lớp dạy nghề nông thôn, nhằm phát triển ngành nghề tạo thêm việc làm cho người dân. Tuy nhiên, với các biện phát hỗ trợ như hiện nay là chưa đủ để các làng nghề phát triển. Bởi lẽ, việc tiếp cận và hỗ trợ các thiết bị mới nhằm cải tiến những công đoạn nhọc nhằn chưa đuợc quan tâm, vốn hỗ trợ đầu tư nguyên vật liệu còn hạn chế, chưa đều khắp.  Các ngành nghề đòi hỏi đầu tư thiết bị, máy móc như mây tre, may mặc để giải phóng bớt sức lao động và tăng năng suất thì chưa được đầu tư. Ong Nguyễn Văn Bù Phó Chủ nhiệm HTX May mặc Long Thành Bắc bức xúc: “Trước sự cạnh tranh khốc liệt giữa may thủ công và may công nghiệp, HTX rất cần trang bị máy may công nghiệp để tăng năng suất và cải tiến thẩm mỹ cho sản phẩm, nhưng không thể nào mua nổi vì một chiếc máy may công nghiệp giá từ 8 – 10 triệu đồng”. Ong Nguyễn Văn Triệu Chủ dự án phát triển nghề mộc ở xã Hiệp Tân thì cho biết: “Nguyên liệu gỗ rất đắt mà vốn vay quá thấp cũng không cải thiện được gì”. Trong lúc đó sản phẩm làm ra ở các làng nghề có nhiều sản phẩm có thể xuất khẩu trực tiếp như mặt hàng mây tre nhưng vì không đủ vốn đầu tư trang thiết bị, qui mô sản xuất không đủ đáp ứng phải xuất qua trung gian nên giảm thu nhập đáng kể . 

Vấn đề đặt ra là nếu chỉ hỗ trợ vốn bình quân quá thấp trên hộ để mua sắm nguyên vật liệu mà không quan tâm đầu tư trang thiết bị cũng như tạo điều kiện để họ tiếp cận kỹ thuật tiên tiến tức là chỉ tiếp tục duy trì thực trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún…như hiện nay vô hình trung ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh ta sẽ trở thành thị trường tiêu thụ các thiết bị lỗi thời, lạc hậu, sản phẩm làm ra không đủ sức cạnh tranh với thị trường cả nước, đến lúc nào đó sẽ bị mai một.

Vì vậy để thoát ra ảnh hưởng này, điều cần thiết nhất hiện nay là đẩy mạnh hợp tác hoá song song với việc hỗ trợ vốn theo yêu cầu ngành nghề  mua sắm trang thiết bị và nguyên vật liệu để các làng nghề phát triển đi lên trở thành hệ thống doanh nghiệp. Vì nếu cứ nỗ lực chỉ trong chừng mực sản xuất nhỏ lẻ thì dù có tồn tại hôm nay, tương lai sẽ đối đầu với những khó khăn khác, và những khó khăn ấy sẽ ngày càng lớn hơn nếu không có chiến lược cụ thể để đổi mới thiết bị công nghệ, nhằm làm ra sản phẩm tốt hơn về chất lượng và giá cả cạnh tranh hơn.