Tác giả Trần Vân Hạc

0
63

 

– Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, chi hội Yên Bái.

– Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Yên Bái.

 

Nghiên cứu về văn hóa một số dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là dân tộc Thái, ngôn ngữ nói chung.

 

Địa chỉ liên hệ:

 

          F.201, Nhà.B4, Ngõ.189, Thanh Nhàn

          P. Quỳnh Lôi, Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội

          Mobile: 043 636 8208 – 0917 331 683

          Mail: vanhac.yenbai@gmail.com

 

Tác phẩm tiêu biểu:

Thơ:

 

Dòng sông tím

  

 Ai đem tình thả dòng sông

Suốt bao năm tháng chờ mong đợi người

Dòng sông tím, lục bình trôi

Để cho nỗi nhớ vô hồi tháng năm

 

Nhớ sao đêm ấy trăng rằm

Tiếng thở dài suốt tháng năm đợi chờ

Tôi đem một nửa câu thơ

Nối dòng sông tím đôi bờ chênh chao

 

 Bồn chồn dõi bóng trăng sao

Chín mong mười đợi ra vào ngóng trông

Đã hẹn rồi hỡi bến sông

Mà người không đến, bến sông không đò

 

Chợt trong gió vẳng câu hò

À ơi cái ngủ… ngủ cho ngoan nào…

Trời đêm rớt một vì sao

Một dòng sông tím lặn vào thơ tôi

 

 

TIẾNG KHÈN

 

 

 

Vút lên từ con tim

Rộn ràng như vó ngựa

Chuốt chọn từng sợi gió

Thông vi vút non ngàn

Gom muôn ánh trăng rằm

Sóng núi dâng mê mướt

Chắt bình minh chợt thức

Lửa tình đầu tinh khôi

Anh hái cả sao trời

Đợi chờ đêm thao thức

Khèn ngân rung tha thiết

Cháy bỏng lời yêu thương

Anh gửi vào mênh mông

Núi mờ sương đồng vọng

Tiếng đơn côi day dứt

Vấp lẻ loi chơi vơi

Lọc tiếng thác trào sôi

Lựa bão giông chớp giật

 

Chợt tiếng lòng xanh biếc

Đàn môi em thì thầm

Tiếng khèn chạm má hồng

Vụt nở hoa tươi rói

Nhịp đất trời hôi hổi

Phập phồng lời yêu trao

 

GỌI BẠN TÌNH

 

Dậy đi em

Dậy đi em

Anh hồi hộp nâng khèn

Trăng vàng sóng sánh

Dặt dìu dòng suối âm thanh

Nhà sàn đợi chờ thao thức

 

Đầu khèn

               chạm vào hò hẹn

Sao hôm đậu xuống mái nhà

Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa

 

Đầu khèn

               chạm vào đợi chờ

Sao mai lung linh cửa sổ

Hội hái hoa ban nọong ơi

Trái tim chung đôi e ấp lời bầy tỏ

 

Đầu khèn

               chạm vào mong nhớ

Trăng neo khau cút* bâng khuâng

Trinh trắng hoa ban

Thắm tình hoa mạ**

Cầu thang rạo rực rung rinh

Em như nàng tiên mùa xuân

Bước ra từ câu khắp

  

Văn:

 

Đượm tình trong tiếng ban mai

                                                                                        

 

Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Đây tiếng sơn ca như tiếng ngọc rơi từ chốn cao xanh, đánh thức những hạt mầm hy vọng trong mỗi người và những hạt mầm đang say giấc nồng trong đất, những mầm non mới nhú trên cành. Đây chú họa mi ngân rung những cung đàn say đắm, tấu lên khúc nhạc cháy bỏng khát vọng một cuộc sống tự do được sống, được yêu. Chú khiếu từ nhà bên trổ tài luyến láy những âm thanh muôn điệu của những giọng ca tài tử. Chú cu gáy vẫn trầm ngâm như một triết gia trong dòng hồi tưởng của một thời oai dũng, chí khí của đấng trượng phu quân tử lay động cả đất trời. Chú chích chòe hồn nhiên nhả những hợp âm trong vắt… trong lòng chợt dâng lên một cảm giác trong trẻo, lạc quan, yêu đời và khát vọng sống lạ kỳ. Vậy mà sao tôi vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó; chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi…

 

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm…chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non  thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

 Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh  du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có… Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

 

 Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế!  Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

 


 

Nghiên cứu:

 

                     NHÂN SINH TRONG TIẾNG ĐẠI NGÀN

 

Đấy là cảm nhận của nhiều người khi được thả hồn trong sự hài hòa, cộng sinh đến tuyệt vời âm thanh của hệ thống nhạc cụ của người Thái Tây Bắc. Nhạc cụ của người Thái Tây Bắc gồm bộ gõ, bộ dây và bộ hơi: Trống, chiêng, chũm chọe, quả nhạc, các loại pí, khèn bè, đàn tính. Trong đó tiêu biểu nhất là bộ gõ và bộ hơi. Mỗi khi những âm thanh của những nhạc cụ này vút lên, người nghe như cảm nhận được sự sâu xa, tinh tế và huyền diệu của đất trời cùng tình người đằm lắng.

Nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc gồm trống, chiêng, chũm chọe và quả nhạc. Bộ gõ này có vai trò rất quan trọng trong đời sống nghệ thuật và tâm linh. Bộ gõ là vật linh thiêng của mỗi bản, mường, không bao giờ được để mất, không để kẻ thù chiếm đoạt, không được đổi chác mua bán

Việc chế tác bộ gõ được tiến hành với những bước rất nghiêm ngặt: Cúng tế xin phép thần linh, cầu mong thần linh cho phép, chứng giám và phù hộ rồi tiến hành ở nơi kín đáo, sạch sẽ. Khi chế tác xong phải cử hành lễ tế trang trọng và cất giữ ở nhà sàn hoặc gian thờ tổ tiên của trưởng bản hoặc người có chức sắc và chỉ được dùng trong dịp tết hoặc lễ cúng xên bản, xên mường… Người Thái cho rằng nếu dùng trống chiêng tùy tiện sẽ có hại cho bản mường.

Trống có hai loại “cống” và “cong”. Thông thường “cống” hay được dùng trong hội xuân, lễ cúng bản mường; còn “cong” dùng khi chủ mường qua đời hoặc khi có giặc, báo động…Tang trống dùng cây gỗ tròn được đục bỏ lõi, thường là gỗ xâng hoặc mít. Tang dài 0,8 – 1 m, mặt có đường kính từ 30cm đến 50 cm, bịt bằng da trâu bò, âm thành trầm và gần.

“Cong” là loại trống dài từ 1,5m đến 3 m, mặt bịt da bò, có đường kính từ 50cm đến 70cm, âm thanh trong hơn, vọng rất xa. Khi chế tác tang trống, để có âm thanh như ý, các nghệ nhân cạo nhẵn bên trong và mặt ngoài chứ không dùng sơn.

Chiêng và chũm chọe được chế tác công phu, đặc biệt là rốn chiêng. Để có âm thanh mong muốn, xưa các nghệ nhân pha thêm vào đồng một tỷ lệ vàng, bạc theo công thức bí truyền và dùng búa nhỏ tạo một hệ thống điểm nhấn lõm trên bề mặt chiêng một cách khoa học.

Chiêng có âm thanh trầm được gọi “tô me”, tức là con mái, chiếc có âm thanh cao gọi là “tô po”, tức là con trống, chiếc có âm thanh ở khoảng giữa gọi là “tô lụ” tức là con con.

Chũm chọe gọi là “xánh”, chùm nhạc là “mắc hính”.

Chiêng có thể dùng riêng, hoặc phối hợp cả ba loại tạo ra một hợp âm độc đáo mà các nhà nghiên cứu cho rằng đậm đà ý nghĩa nhân sinh, mang một khát vọng phát triển và trường tồn của dân tộc.

Thường là đàn ông đánh trống, đàn bà đánh chiêng, trẻ em dùng chũm chọe, con gái trẻ dùng quả nhạc tạo ra những âm thanh sôi động, lôi cuốn lòng người. Nghe những âm thanh tinh tế  bộ gõ của người Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời, tình người cùng vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ.

Nghe tiếng trống, chiêng, người ta có thể biết ở bản Thái ấy đang có việc vui hay buồn: Nghe tiếng trống nhịp 2/4 theo kiểu 3 tiếng cùng với 7 tiếng, tiếng chuông gõ trên con mái và con trống rơi vào nhịp mạnh, tiếng của con con rơi vào nhịp nhẹ của trống, thì chắc chắn rằng ở đó có hội xòe. Còn khi nghe tiếng “cong” dồn dập 3 tiếng hoặc 5 tiếng là có việc khẩn cấp như: Cháy nhà, có lũ bão, có giặc… Các quả nhạc cùng phụ trợ cho lời hát và các điệu xòe làm tăng sự vui tươi, sôi động, rộn ràng bay bướm.

Bộ gõ nói chung và chiêng trống nói riêng là những nhạc cụ không thể thiếu của người Thái Tây Bắc, góp phần làm cho đời sống nghệ thuật thêm phong phú, đồng thời còn chứa đựng những ý nghĩa tâm linh và nhân sinh cao cả, gửi gắm vào đó cả tình yêu, tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống no ấm, hạnh phúc.

Bộ hơi gồm các loại pí (sáo) và khèn bè, riêng pí có tới 7 loại: Pí pặp, pí lè, pí sên, pí ló, pí thiu, pí tót, pí rạ. Đây là những loại sáo dọc, dùng lưỡi gà bằng đồng hoặc tre, nứa… Trong đó đứng đầu là pí pặp – nhạc cụ của tình yêu. Song nói tới bộ hơi phải nói tới khèn bè, bởi đây là nhạc cụ chủ đạo trong bộ hơi của người Thái Tây Bắc và là biểu tượng độc đáo của nền âm nhạc Thái.

Với 14 ống nứa tép (mạy pao) được ghép lại thành từng đôi trên một bầu cộng hưởng bằng gỗ thừng mực (mạy mụk), nghệ nhân dùi 12 lỗ bấm đối xứng và khoét các lỗ thoát hơi trên các ống nứa với các kích cỡ khác nhau ở các vị trí thích hợp. Một trong các kỹ thuật khó nhất là sử lý các lam đồng, từ độ dầy, độ dài tới độ bóng bề mặt. Với năm cung và một quãng tám, khèn bè có thể diễn tả được hầu hết các điệu dân ca, nhạc hiện đại và làm nền cho các điệu dân vũ và múa hiện đại. Bởi vậy khèn bè luôn có vị trí xứng đáng trong đời sống nghệ thuật của người Thái và cả trong các tiết mục sân khấu.

Điều thú vị là ở khèn bè Thái có những âm thanh sóng đôi như: Lả – lá, hai nốt rế, hai nốt son, đồ – đố, phà – phá… mà các nghệ nhân gọi là “pò mè” – tức là bố mẹ. Bởi vậy mỗi khi tiếng khèn bè cất lên nghe da diết sâu lắng như lời tâm tình yêu đương cháy bỏng của những đôi trai gái. Dù đó là điệu “Báo xao” – trai gái; “Sài peng” – tình tự; “Lòng tông” – qua cánh đồng; “Han nê” – ở đây, tại đây, ngụ ý tự hào – điệu khắp chỉ có ở Mường Lò, trong hội xuân chơi hang Thẩm Lé… hay đệm cho các điệu xoè. Triết lý âm dương, sự sinh sôi phát triển của cuộc sống được thể hiện vô cùng tinh tế… Bởi vậy khèn bè khi kết hợp với bộ gõ, các loại pí… đem lại một hiệu quả vô cùng to lớn, những âm thanh như tiếng của đại ngàn, của đất trời và tình người huyền diệu, trải bao năm tháng, sống mãi với thời gian.

Có thể nói hệ thống nhạc cụ của người Thái Tây Bắc là tinh hoa văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, được chắt lọc từ thực tế cuộc sống, không chỉ đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật âm nhạc dân tộc, mà còn gửi gắm vào đó nhận thức về vũ trụ, nguyên lý âm dương, khát vọng sống ấm no, hạnh phúc tự bao đời.

 

         Trần Vân Hạc

Có liên quan