Tác giả Kha Tiệm Ly

3
150

Tác phẩm tiêu biểu:

Đậu Cô Lang

Truyện ngắn

 

Năm Hồng Tú Toàn chiếm toàn cõi Giang Nam, bày ra những luật lệ lạ đời không hạp lòng người. Đậu Phong theo đoàn lưu dân ngược về mạn bắc Động Đình Hồ định cư ở Nhạn thôn, dưới chân Nhạn Sơn lánh nạn.

 Đậu rất khôi ngô, tánh lại hiền hoà. Hằng ngày vào núi, hễ gặp thú thì săn thú, không gặp thì bẻ củi quảy về đổi gạoThường thì ăn không hết, bèn đem cho những người nghèo lân cận, lại hay giúp đở việc nặng nhọc cho người mà chẳng lấy công, vì thế cả thôn đều yêu mến.

            Đậu một bóng một mình trong căn chòi nhỏ, sống đạm bạc, tháng ngày thui thủi, người trong thôn thường gọi chàng là Đâu Cô Lang! (Anh chàng họ Đậu cô đơn).

            Phía tây của thôn có miếu Thành Hoàng đã lâu đời. Ngoài thì tường vôi rêu phủ, trong thì bụi nhện bám đầy. Hỏi mấy tiền bối trong thôn; được đáp:

                        – Đó là Tô tướng quân, ngày xưa là hảo hán hùng cứ Nhạn Sơn nầy. Năm Chu thế tổ bị dịch vây hãm tại đây, Tô tướng quân bèn kéo huynh đệ xuống giải cứu được vua, nhưng ngài thì bỏ mạng. Sau khi lên ngôi, vua nhớ ơn và cho lập miếu thờ.

                        – Thế tại sao hương khói lại lạnh nhạt như vậy?

                        – Có những chuyện mà không thể nói được đâu.

            Hôm sau trước khi vào núi, Đậu ghé lại miếu quét dọn, lấy nước suối rửa sạch pho tượng, thì hiện ra một trang hảo hán hàm én mày ngài, râu ria tua tủa, toát ngời dũng khí, oai phong. Từ đó, hễ có ít rượu ít thịt thì đem trước tượng vái mời, lâu riết thành quen, không còn sợ sệt. Có khi bày rượu tại miếu, ngồi đối diện với pho tượng mà chén uống chén mời!

Có lần say quá ngủ luôn dưới nền, khuya khát nước cháy cổ, giật mình thì thấy bụng bị đè cứng ngắt, không cục cựa được; lại nghe tiếng ngái bên tai như sấm, Đậu liếc sang, dưới ánh trăng non, hiện chập chờn một khuôn mặt râu tóc xồm xàm y như pho tượng! Đậu hiểu được phần nào, tim đập thình thịch, tưởng chừng như vọt ra ngoài, song nghĩ lại thấy lòng mình ngay như trúc, nhủ rằng: “Người quân tử ban ngày không làm việc mờ ám thì ban đêm không sợ quỉ ma”;  bèn mạnh dạn hỏi:

                        -Hồi chiều mời nhau ly rượu, có gì mạo phạm chăng?

            Giọng ồm àm  đáp:

                        – Tri kỉ nằm gác chân lên nhau là chuyện thường tình, hà tất lo lắng.

            Rồi kéo chân về, Đậu thấy nhẹ cả mình. vội ngồi dậy, kẻ ấy cũng ngồi dậy. Đậu nhìn lên pho tượng, kẻ đối diện giống như in, lại có phần trẻ trung hơn, thần sắc càng uy nghi lẫm liệt. Đậu cả sợ, nhưng kẻ ấy lại chấp tay cung kính:

                        – Tô Đại Ngưu nầy được làm bạn với nhân huynh là có phước từ kiếp trước.

            Đâu quì mọp xuống:

                        – Thất lễ. Theo các bô lão nói, thì tướng quân ra đời trước ngu dân hàng mấy trăm năm. Tô tướng quân đùa như vậy, thì tội phạm thượng  ngu dân không gánh nổi đâu.

            Tô vỗ nhẹ lên vai Đậu mà Đậu nghe như xương cốt mình chuyển răng rắc. Tô cười lớn:

                        – Chớ khách khí! Thần thánh nào có tuổi? Khi ta về chầu trời thì tuổi cũng trạc nhân huynh, thì có đến bao giờ thì cũng vậy mà thôi. Ta là kẻ võ biền không hay rào đón dông dài. Thôi, hãy gọi ta là Tô đại ca là được rồi.

            Đậu còn đắn đo, Tô khôi hài:

                        – Hay là ta gọi nhân huynh là đại ca?

            Cả hai cùng cười, mọi việc tị hiềm tuổi tác, thần phàm kể như không còn.

            Thế là hai người kết thành huynh đệ.

            Rượu lại rót đầy chén lớn. Tô uống rất hào. Hai người trò chuyện rôm rả, có mòi tâm đắc như đã quen nhau tự thuở nào. Đậu cũng không còn dè dặt lời ăn tiếng nói, quên hẳn mình đang đối ẩm với một vị võ thần mà sức lực có thể xé nát chàng ra ra từng mảnh nhỏ để “đưa cay”!

            Một lần ngà ngà. Đậu nói:

                        – Tiểu đệ biết phận mình khó thể lên trời. Địa ngục trước sau gì cũng phải xuống. Đại ca có thể cho tiểu đệ tham quan một chuyến, để sau nầy chẳng ngỡ ngàng, được chăng?

            Nuốt vội miếng thịt lớn, nốc cạn chén đầy. Tô quẹt râu mép đáp:

            – Có khó khăn gì chuyện đó, nhưng ta chỉ sợ hiền đệ thất vọng thôi.

 

                                                              *

Cõi U Minh chẳng khác như trong kinh Phật mà Đậu đã xem qua. Ánh sáng dường như chỉ trông cậy vào mhững cây đuốc rải rác trên đường, lập loè mờ ảo. Không khí se lạnh, ngộp ngạt. Lũ đầu trâu mặt ngựa vẻ mặt lạnh lùng  hung ác, tay cầm chỉa ba thỉnh thoảng thích vào lưng các tội nhân bị xích xiềng hàng loạt bị lũ quỉ kéo đi. Máu tươi đổ đỏ mặt đường. Bên kia tiếng roi da tron trót, quất xối xả vào bầy người cũng bị xích xiềng, trông vô cùng thê thảm. Đậu kinh người, thầm nghĩ số phận của mình ngày sau sẽ thế nào đây! Một khắc sau, hai người đến toà nhà đồ sộ, sang trọng, Tô nói nhỏ: “Đây là Phán Quan phủ. Có ta, chớ sợ”.

            Một vị Phán Quan râu tua tủa, ngồi sau bàn viết chứa nhiều sách vở, vừa thấy Tô đã vội đứng dậy, vừa cung kính chào, vừa thân thiện:

                        – Tô huynh! Lâu quá mới gặp!

            Rồi thoáng nhìn Đâu, nói khẽ với Tô, nhưng cũng đủ để Đậu nghe nồn nột:

                        – Thằng đó đến Đông Chí mới tận số, sao huynh đem xuống sớm thế?

            Đậu nghe mà rụng rời, còn Tô thì cũng giật thót người:

                        – Tô mỗ một phút cao hứng mà mang Đậu hiền đệ tham quan địa phủ một chuyến, nào biết gì chuyện sanh từ của cõi âm. Chẳng hay lão huynh có thể mở lòng quảng đại chăng?

            Phán Quan chần chừ một lát, đoạn đáp:

                        – Chỗ bằng hữu sao Tô huynh lại nói thế? Nhưng chốn Diêm đình không phải là nơi tuỳ tiện. Hơn nữa có nơi cũng không nên ghé mắt vào. Không có đệ cùng đi chắc không xong.

            Đậu, Tô cả mừng, cùng bước theo Phán Quan. Theo từng bước đi, hai bên tai Đậu inh ỏi tiếng kêu la, rên siết. Lần lượt đi qua nhiều cửa ngục, hiện ra biết bao cảnh tượng hãi hùng. Hàng đám người bị cưa ngang xẻ dọc, bị khoét mắt, chặt tay, cắt lưỡi. Có đám lại bị mổ bụng moi gan. Có đám bị bỏ vào vạc dầu sôi, đám bị quết bằng chày đá, da thịt nát nhừ, lộm cộm những xương! Lại có đám bị nướng trên vỉ than đỏ rực, mở chảy xèo xèo, khói bốc ngầy ngậy như mùi lợn quay!

            Tiếng rên la bởi hàng chục roi da gậy sắt quất túi bụi vào đám người đầu trọc lóc, áo quần màu vàng, màu đen dính đầy máu khô máu ướt. Đậu thấy bất nhẫn, bạo gan hỏi:

                        – Đó không phải là những nhà tu sao?

            Phán Quan không nhìn Đậu, “hừ” một tiếng  rồi đáp:

                        – Nhà tu? Bọn nầy chỉ biết dọn cái đầu cho bóng, mượn chiếc áo của Như Lai để đậy che cái bụng tồi tàn thối tha của chúng. Lợi dụng lòng tin của mọi người để lấy của cúng dường mà mưu đồ lợi ích riêng tư. Khoác áo Như Lai mà miệng lưỡi láu cá điếm đàng; miệng môi Bồ Tát mà lòng đầy dao bén chỉa nhọn. Đã xuất gia mà còn ăn thịt uống rượu, luyến lưu bóng sắc, không quên má phấn, môi hương. Lời ong tiếng bướm với Ưu Bà Di (nữ Phật tử tại gia), lén lút gối chăn với bao tín nữ. Ta nói ra còn ngượng miệng, thì tội của chúng đáng kinh tởm đến thế nào?

            Rồi chỉ tay về bên trái, tiếp:

                        – Huynh đệ hãy xem bọn người mặt mày sáng sủa đang bị đám quỉ sứ hành hạ kia! Đó chẳng phải là đám trên thế gian được mọi người quí trọng, được tán dương là “Lương y như từ mẫu” đó sao? Nhưng họ đâu biết trong đám người hành nghề cao quí đó, lại có những kẻ lòng đen như lọ! Thay vì đem y thuật cao minh của mình để cứu người với tấm lòng nhân ái, thì công đức biết bao nhiêu! Đàng nầy chúng lại lấy sở trường của mình để moi tiền con bệnh, không cần biết số tiền ấy là do bệnh nhân bán đất, bán nhà mà có. Là tầng lớp trí thức nên chúng có đủ trăm mưu ngàn kế, có thừa mưu thần chước quỉ để làm bệnh nhân khốn đốn, gian nan. Lại có kẻ xem bệnh nhân như cỏ rác, tha hồ tiếng bấc tiếng chì. Vì mạng sống, mà bệnh nhân phải đành lặng tiếng im hơi. Tủi phận biết bao nhiêu! Nói sao cho hết?

            Đậu chỉ những đấu tiền vàng chói loà trước mặt bọn người ấy, hỏi:

                        – Cớ sao lại…cho bọn chúng nhiều tiền đến thế?

            Phán quan cười:

                        – Lát nữa “cho” chúng … nuốt đầy bụng, để kiếp lai sinh thấy tiền mà sợ!

            Chỉ vào đống đao thép sáng ngời kế bên, Đậu lại hỏi:

                        – Còn đống đao bén kia, chẳng lẽ cũng cho chúng nuốt vào?

                        – Lát nữa dùng để mổ ngực chúng, để coi xem trái tim của chúng bằng gang sắt chi, mà sao chẳng chút tình người!

            Bỗng Phán quan dừng bước, chỉ vào một cửa ngục lớn nhất bên phải:

                        – Chỗ ấy không đến được đâu.

            Rồi nói nhỏ cho hai người vừa đủ nghe. Đậu than:

                        – Ở âm phủ mà cũng có loại quan tham nhũng, hối lộ, thì còn đất trời nào nữa!

            Đoạn quay qua Tô:

                        – Đủ lắm rồi. Chúng ta về thôi đại ca.

            Trên đường về, cả ba không một lời. Mỗi người mỗi ý nghĩ khác nhau. Phần Đậu, nhớ lại lời Phán Quan nói lúc mới gặp: ” Thằng đó đến Đông Chí mới tận số…”.  Mà bây giờ thì đã Lập Thu, lòng băn khoăn trăm mối.

            Lời Phán Quan xoá tan mọi ngột ngạt:

                        – Mời  Tô đại ca và Đậu huynh đệ đây về bản phủ dùng chén rượu cho khuây khoả vậy.

            Vốn là người cương trực, lại được rươu nung lòng. Đậu chấp tay về phía Tô, rồi xoay qua hướng Phán Quan, cung kính:

            – Kẻ phàm phu nầy tu ngàn kiếp mới được kết nghĩa với Tô huynh, và mới được đại quan niệm tình chiếu cố, nên mới bạo gan được hỏi câu nầy: Trên dương thế , kẻ hèn nầy dù chẳng làm gì ra trò, nhưng cũng biết ít nhiều lễ nghĩa; chưa hề làm chuyện sát đức hại nhân. Chẳng hay vì cớ chi mà đoản thọ?

            Phán Quan dùng ngón cái tách những trang sách của một quyển sách dày nhất trên bàn, đoạn dừng lại, lật ra, nhìn vào đó một lát rồi nói với cả hai người:

                        – Đậu huynh đệ quả nhiên đoản mạng. Nhưng tử sanh là việc thường tình, Có chi phải sợ? Điều đáng nói là sống như thế  nào , và chết như thế nào mới là chuyện đáng lưu tâm, dù là kẻ dân quèn quần bô áo vải, hay là bậc thượng lưu mũ rộng giày cao cũng không ngoại lệ. Dù là vua, là công hầu khanh tướng  mà khi sống, coi dân như kẻ tôi đòi, tha hồ bóc lột, vét từ hạt thóc củ khoai, rỉa từ cọng xương miếng tuỷ; với công khố thì tìm đủ mưu ma chước quỉ để bòn rút cho dầy túi tham không đáy. Những kẻ ấy dù sống, nhưng có khác gì loài sâu bọ, có đáng là người? Dù Diêm Vương chưa gọi, nhưng những hạng người nầy đã chết từ lâu, hay ít ra phần tim, phần óc của bọn họ cũng đã bị phân huỷ, rệu rã tự bao giờ! Bọn chúng còn sống ngày nào thì càng khổ cho lê dân bá tánh ngày ấy, có chi vinh dự? Nhưng rồi một ngày, chúng cũng phải về đây, chúng cũng phải bỏ lại bao nhiêu dinh cơ đồ sộ, châu báu kho tàng, vợ đẹp con ngoan cho kẻ khác! Chỉ có cáinghiệp, dù cho chúng muốn bỏ lại, nó cũng đeo sát bên mình! Và rồi phải oằn lưng mà trả lại bằng chỉa nhọn, bằng lửa nóng dầu sôi! Còn với những người kiên trung nghĩa khí như Tô đại ca đây (liếc sang Tô), khi chết, tuổi đời chỉ quá hai lăm, nhưng đã trở thành bất tử. Bởi vậy, chân giá trị của cuộc sống không phải là thọ hay yểu; mà chính là mình có làm lợi ích gì cho cuộc sống nầy được bao nhiêu? Đậu huynh đệ yểu mạng, trong sổ tử sinh ghi sẵn rành rành, khó bề tránh khỏi. Nhưng trên dương gian, Đậu huynh đệ thường, hay thương người hoạn nạn, giúp kẻ thế cô; nhất là tánh nết hiền hoà, lòng ngay như trúc. Đến ngày phán xử, chắc cũng được ít nhiều phước báu chở che, hà tất lo ngại.

            Máu võ biền của Tô trỗi dậy:

                        – Luật lệ không thể tự nhiên mà có, mà phải được đặt ra; được đặt ra, thì có thể sửa lại được mà! Lão bằng hữu (người bạn thân thiết từ lâu) chỉ cần phẩy bút một nét, thì Đậu hiền đệ sống thêm trăm tuổi như chơi!

            Biết ý Tô, Phán Quan cười cười, nhưng rất kiên quyết:

                        – Không sai! Kẻ cầm luật luôn là kẻ thao túng luật pháp nhất. Đừng bao giờ dại dột cả tin: ” Thiên tử có tội, cũng bị xử như thường dân”. Khù khờ mà hiểu như vậy là có ngày bị hoạ sát thân! Xưa nay có ai đã thấy thiên tử bị xử tội bao giờ? Tô huynh nói đúng. Đệ có thể phẩy một nét, thì Đậu huynh đệ đây có thể sống thêm trăm tuổi; phẩy hai nét, có thể sống đến hai trăm; hay cũng chỉ phẩy một nét, mà có thể  một lát…  Tô huynh sẽ về dương thế một mính! Nhưng đệ không thể làm vậy, vì đệ muốn cây mía sâu cũng còn một đôi lóng ngọt ngào;  muốn gạn chất bùn để giữ được phần nào mặt nước trong veo! Loại sâu mọt quan trường đời nào cũng có, nơi nào cũng có, nhưng bậc hiền lương cũng chẳng phải không còn, dù phải đốt đuốt mà tìm! Đệ không thể như bao ôn quan lấy tay dơ mà cầm bát cơm trắng sạch; lấy đầu dơ mà đội mũ cánh chuồn. Tô huynh và Đậu huynh đệ lượng thứ cho.

            Tô nghe mà khoái cả lòng, còn Đậu thì vội mọp xuống , thi lễ:

                        – Kẻ phàm phu nầy nghe lời đại quan nói mà mở cả tấm lòng, dù có làm tội đồ của đại quan từ lúc nầy bụng cũng không hề hối.

            Phán Quan nói với hai người:

                        – Giờ cũng không còn sớm , nhị vị cũng không nên lưu luyến chốn nầy làm gì. Chuyện hôm nay, xin Đậu huynh đệ xem như chưa từng thấy là được rồi.

 

KHA TIỆM LY

 

VĂN “HÀNH”

Kha Tiệm Ly

 

Trộm nghe:

Thế nhân vốn một mặt muôn lòng,

Văn chương cũng năm đường bảy ngõ!

Trò đời đã nhiều chuyện lá lay,

Con tạo lại bày trò cắc cớ!

 

Nhớ xưa,

Bao thi nhân hùng khí chưa mờ,

Bao kiệt tác ngôn phong còn rõ.

Đồ Chiểu đâm mấy thằng gian, bút thép chẳng tà,

Cử Trị mắng bao phường nịnh, lòng son vẫn tỏ.

Hịch Tướng Sĩ, sông Bạch Đằng nước cuộn sóng gào,

Cáo Bình Ngô, núi Chí Linh cây rung lá đổ.

“Văn dĩ tải đạo”, lời cũ thường khuyên,

“Đức khả thắng tài”, kẻ sau chẳng nhớ!

 

Thế mà nay,

Học hành đôi chữ lem nhem,

Văn vẻ ba xu ú ớ.

Vỗ bụng cứt, khoe ráp được vần ngược, vần xuôi,

Vểnh tai trâu, thích nghe nịnh lời nầy, lời nọ.

Văn nghe giống nước mắm chấm dùi,

Thơ đọc như thầy chùa gõ mõ!

Không rành luật đối, cũng xưng mầy đó ta đây,

Chẳng sạch vần gieo, cũng vô hội nầy hội nọ.

Thơ in vài tập, chừng như đội đá vá trời,

Văn  viết đôi bài, đã vội khua môi múa mỏ.

 

Vậy mà,

Báo tháng thường đăng,

Báo ngày chẳng bỏ!  

Chỉ tội người nghe con ráy lùng bùng,

Chỉ thương người xem con ngươi lổ đổ!

Ráng banh miệng, mà cười chẳng ra cười

Cố xệch môi, mà khổ không ra khổ!

Vinh chăng?

Đi xe đời mới, đặt đít sướng mông,

Ở nhà lầu cao, ngẩng đầu trật cổ!

 

Như ta đây,

Dù cái thi, cái phú chưa đầy lá mít, lá mơ,

Nhưng cái nghĩa, cái tâm khá hơn loài sâu loài bọ.

Ghét quân khẩu Phật tâm xà,

Ghét phường miệng hùm gan sứa.

Không dè lời, cứ thẳng mực tàu.

Theo đúng thước, làm đau lòng gỗ!

Bao năm “bán phổi”, đệ tử mấy ngàn,

Một thuở khua chèo, bạn bè vô số.

 

Ngặt vì,

Kết bạn thì “Tri mãn nhân gian”

Ngoãnh mặt lại,”Vô thân tứ cố”!

Không độ nỗi những kẻ cúi lòn,

Chẳng theo kịp mấy thằng bợ đỡ!

Chẳng bù cái mũi có giàm,

Không giống đồng xu có lỗ!

Chẳng phải bành voi mặc kẻ leo lên,

Không như trôn đĩ mạnh ai mấy xỏ!

 

 

Dù cho,

Thời buổi nầy mà rách dép rách giày,

Xe đạp nọ luôn trật sên trật chó!

Dù áo Tử Lộ (!) còn đành mạn cổ, vá vai,

Nhưng mặt Nhan Hồi (2) không dễ bôi vôi, trét nhọ.

 

Đã từng,

Văn chương treo ở đầu giàn,

Bút mực đem quăng một xó.

Nào chê bai chữ nghĩa rẻ như bèo,

Mà  tức khí vàng thau cùng một rọ!

 

Khổ vì,

Muốn hoàn lương mà nghiệp đĩ cứ đeo,

Muốn quăng bút, mà đường văn còn nợ!

Sá gì gạo vét mòn lon,

Thây kệ giày đi há mỏ!

Đêm dài lắm mộng, ai rằng Vương Khải (3) là vui?

Nước sạch cành hông, ai bảo Vĩnh Kì (4) là khổ?

 

Thôi thì,

Mặc ai pha muối pha đường,

Mặc nó lộn vừng lộn đỗ.

Tự hào vì thứ ta đủ, mà họ không cần,

Kiêu hãnh bởi điều họ dư, mà ta không có!

 

Xem xong,

Ai nhột thì cứ “xổ nho”

Ai khoái thì xin cổ võ!

 

KHA TIỆM LY

(1) Tử Lộ: Học trò nghèo của Khổng Tử. (2) Nhan Hồi: Học trò giỏi của Khổng Tử (3) Vương Khải: (thường đi với Thạch Sùng), hai người giàu nhất một thời của Trung Quốc, đêm luôn sợ trộm mà ngủ không yên. (4) Khải Kì: Vĩnh Khải Kì, người nghèo, thường uống nước suối, ăn rau rừng, mà lúc nào cũng vui, ca hát.

Có liên quan

3 BÌNH LUẬN

  1. Hai bài thơ văn “tiêu biểu” của nhà giáo Kha Tiệm Ly thật sâu sắc vô cùng: Nhân sinh quan của ông rạch ròi tà chánh phân minh. T/g mượn cảnh địa ngục để nói những bức xúc của mình về những thầy thuốc không lương tâm, những nhà sư mượn áo cà sa để vụ lợi! Lý luận về cuộc sinh tử qua lời nói của Phán quan nghe mà thích:”… chân giá trị của cuộc sống không phải là thọ hay yểu, mà chính là mình đã làm lợi ích nầy được bao nhiêu”; đề cập đến vương pháp:” Kẻ nắm luật là kẻ thao túng luật nhất, đừng dại dộy cả tin….”

    Bài viết hoàn toàn hư cấu. Nhưng những điều mà t/g bịa ra người đọc thấy thích thú. Lý luận sắc bén như một lưỡi đao.

    Bài Văn “hành” cũng không ngoài việc tác giả muốn nói lên nhận định của mình về các “nhà văn” mà tác giả cần phê phán. Đọc từ câu, tôi khoái từ câu!

    Tôi lại đọc truyện “bút lạc dòng”, ông cu sứt” của tác giả. thì ra chuyện của tác giả viết không ngoài gởi gấm tâm sư, nhận định của mình về xã hội, văn học…

    kính

    Cao sơn lâm, an giang

  2. Bài “VĂN HÀNH” tôi không bàn tới về văn phong, vì vốn dĩ tuyệt lắm rồi (những câu dối từng cặp, công với vần nghe rất thích). Tôi muốn nói về Ý TƯỞNG :

    – nó nói lên tác giả là kẻ từng lăn lộn trên trường đời. có những câu mà ta đọc thấy nghĩa khí hiện ra:

    ” bao năm “bán phổi”, đệ tử mấy ngàn,
    Một thuờ KHUA CHÈO bạn bè vô số”

    Chữ “khua chèo” theo thôi thật hay, chỉ hai chữ mà nói lên thuở giang hồcủa tác giả

    Từng phân đoạn dều có những câu đối, mà ta khó ngờ (doạng DÙ CHO, NGẶT VÌ, NHƯ TA ĐÂY…)

    ĐỌC NHIỀU LẦN VẪN THẤY THÍCH

    nhật nguyệt

  3. Bác Kha ơi em phục bác quá đấy.
    em thích nhất hai câu
    Sá gì gạo vét mòn lon
    Thây kệ giầy di há mỏ
    …Đọc câu này em nhớ tới câu chuyện của thầy Văn Như Cương .Em sẽ gửi Email cho bác đọc nhé.Người viết Văn kiểu Tế như bác bây giờ ít lắm chứ nói gì hay nữa .Em là người rất mê lối văn cổ thấy bài này của bác em thích quá .Lâu lắm mới được dọc thể loại này kể từ ngày học Văn Tế Nghĩa sĩ của cụ Đò Chieur.Cảm ơn bác nhiều tiếc rằng không được diên kiến và theo học bác ,đấy là thiệt thòi lớn nhất của em.Bác đúng là THẦY

Comments are closed.