Tác giả Đặng Thị Thanh Liễu

0
101

 

Đã in tập thơ: MỘT THỜI VÀ MUÔN THUỞ.

Xuất bản năm 2002

Viết văn và làm thơ. Có thơ và văn đăng trên các báo và tạp chí trên cả nước.

Sắp in tập truyện gồm nhiều truyện ngắn chọn lọc từ hơn mười năm sáng tác.

 

Hiện đang sinh sống tại Đàlạt.

Đc: 6 Hoàng hoa Thám Đàlạt Lâm Đồng

Đt: 0933216441. Email: Thanhlieudls@yahoo.com.vn


Tác phẩm tiêu biểu

 

Thơ

 

RỒI TỪ  ĐẤY

 

Rồi từ đấy bạn tôi không về nữa

Nơi bạn dừng chân, một dải đất buồn

Tôi từ đấy mang nỗi lòng đá sỏi

Đâu nghiêng mình nửa mặt chẳng soi gương. 

Rồi từ đấy bạn tôi không về nữa

Tiếng đàn quen gọi mãi một tên người.

Tôi từ đấy nửa hồn là bến vắng

Nửa hồn là con nước thẩn thờ trôi. 

Rồi từ đấy bạn tôi đi mãi mãi

Đêm hoa quỳnh nở muộn ở ngoài sân.

Có tiếng lá rơi vào khoảng vắng

Giữa cô đơn tôi ngỡ bạn thật gần. 

Và từ đấy bạn tôi đi mãi mãi

Nắng hay mưa cũng chỉ  một mình

Nấm đất dầy lên một làn cỏ rối

Tôi tìm người bên ngọn khói lung linh. 

 

 

Truyện ngắn

 

NHỮNG MÙA TRĂNG ĐỊNH MỆNH 

   

Khi con chó  nhỏ thuộc loại chó Bắc kinh vừa sủa vừa chạy vào nhà, ông luật sư cầm mũ lên và  ra khỏi nhà. Ong thấy ánh nắng đã lắng xuống, không khí có vẻ yên tĩnh, ông rẽ vào một khu phố có nhiều cửa hiệu, ông tiếp tục đi vào một cái ngõ, mảnh giấy có ghi địa chỉ vẫn còn nằm gọn trong tay ông. Trước kia ông ít đi qua đây, nhưng sáng nay một điều gì đó đã kéo ông tới khu phố này, một khu phố không lấy gì làm sang trọng lắm, nhưng rất sầm uất.Khi bước chân vào cái ngõ này ông mới chắc chắn rằng đây là giang sơn của người nghèo.

    Nhìn những đừa trẻ lam lũ trong cái ngõ hẹp này ông hiểu ngay gốc gác của chúng từ những ngôi nhà ổ chuột mà ra, hoặc từ những cuộc ly hôn, từ những mối tình ngang trái nào đó…v…v…và còn nhiều còn nhiều nói chung là từ nhiều hoàn cảnh khác nhau. Cái ngõ dài thườn thượt và cũng nghèo chí tử, không hiểu sao lại len lỏi được giữa một khu phố sầm uất của thị trấn này. Đây không phải là lần đầu tiên ông biết về cảnh khổ nghèo, sự thảm hại của những căn nhà tồi tàn, tuy nhiên đây vẫn là những căn nhà còn ra hồn hơn căn nhà của ông hồi hơn ba mươi năm về trước và cũng từ căn nhà làm bằng tôn múi, đá và bùn trét lại ông đã ra đi và chưa một lần quay trở lại. Ba mươi năm qua căn nhà tồi tàn đó đã biến mất vĩnh viễn trong đầu óc ông. Và bây giờ đây ông là một luật sư, một người có quyền bảo vệ quyền cho con người, những con người đã trót một lần phạm tội. Phạm tội ư ? Người nghèo phạm tội hay người giàu phạm tội ? Cả hai. Người nghèo phạm tội vì cần có tiền để sống, người giàu phạm tội vì có quá nhiều tiền và đã để đồng tiền đi sai chỗ . Ong chợt mỉm cười và đụng phải một thằng bé ở trần, ông cúi xuống xin lỗi nó và hỏi thăm nhà thằng Sang làm thuê, thằng bé chỉ vào một căn nhà gỗ nhỏ nằm khiêm tốn ở cuối ngõ.

Ong dè dặt bước vào, một người đàn bàhơi gầy bước ra tuy gầy nhưng vẫn còn đậm nét duyên dáng, chị cười tựa như không có một mối lo lắng nào trên đời này. Ong quan sát thật kỹ căn nhà, rồi ngước mắt nhìn người đàn bà là mẹ của một thằng bé tội phạm. Trong ánh mắt yêu thương của chị dành cho con rõ ràng hàm chứa cả nhận thức về mức độ yếu đuối và cả sự thiếu trách nhiệm của mình, nhưng giờ đây đứng trước chị là một người đàn ông có quyền quyết định về số phận của con chị. Ong ngồi xuống chiếc ghế gỗ cũ kỹ và móc trong túi áo ra để trên bàn một lá thư từ tốn nói:

__ Tôi nhận được lá thư này đã ba ngày rồi, nhưng đến nay mới rãnh rỗi ,thành thật xin lỗi chị. Người đàn bà vẫn dành nụ cười cho ông:

— Dạ không sao, miễn lá thư đến được tay ông là tôi mừng lắm rồi.

—- Xin lỗi, tôi đến đây…. Có thể giúp đỡ gì cho chị không?

Ong luật sư hỏi có vẻ dò xét. Người đàn bà cúi thấp đầu ngập ngừng:

—- Thưa ông , tôi nghĩ  rằng hôm nay tôi được tiếp đón một người bạn chứ không phải một ông luật sư, ông có cho là như thế không ?

Ong luật sư ngạc nhiên:

— Vâng, ông chưa hiểu cũng phải vì đã hơn hai mươi năm rồi còn gì, bây giờ chúng ta đầu đã bạc, duy có điều ông bạc nhiều hơn tôi và là người có chức có quyền. Ong luật sư vẫn tròn xoe mắt, ông đột ngột đổi giọng:

—- Thưa bà, đứng trên cương vị một luật sư thì tôi đến đây mong tìm thêm được chứng cứ gì chứng tỏ con bà vô tội để hòng cứu cậu bé chứ đâu phải….. ông chợt ngừng giọng khi đôi mắt vừa lướt qua tấm ảnh treo trên tường, ông đứng bật dậy đến gần bức ảnh hơn, rõ rồi, ông nhìn rõ lắm rồi, giọng ông run rẫy như một con chó nhỏ dưới trời mưa:

— Di..ệu…đây mà…Bích Diệu, trời ơi… thế mà.. đã..đã hai mươi năm rồi cơ à.

Ong luật sư lúng túng tìm cách che dấu cảm xúc của mình. Diệu bỗng ôm mặt khóc. Những giọt nước mắt sầu tủi giàn giụa làm hoen lớp phấn trên mặt chị. Mặc dù năm tháng trôi qua đã làm dịu phần nào cái tính cố chấp của ông, nhưng chẳng bao giờ ông tha thứ cho cái thời trẻ dại của mình. Giá như ! Phải, giá như ngày ấy cha mẹ Diệu đừng chê ông nghèo thì bây giờ đâu phải hai người hai con đường , hai cuộc sống khắc nghiệt thế này.

Nghèo! Phải, cái từ nghèo là cái từ đáng sợ nhất trên thế gian này và bao nhiêu thứ phải mất đi vì nghèo, mất hạnh phúc, mất danh dự, mất nghĩa tình, mất người thân….và bà Diệu đang đứng trước nguy cơ ấy, đứng trước một nỗi đau mà bà phải can đảm chấp nhận, đó là đứa con trai độc nhất của bà mới mười lăm tuổi đãphạm tội. Nó phạm tội giết ông chủ giàu có của mình. Thằng bé vẫn một mực kêu oan nên việc khởi tố chưa quyết định. Nếu không vì nghèo thì bà Diệu đâu để con đi giúp việc cho người ta.

Phải chăng thằng bé  là hiện thân của ông hồi hơn ba mươi năm về  trước, ông cũng trạc tuổi thằng bé con bà  Diệu bây giờ, nhưng thằng bé còn diễm phúc hơn ông ở chỗ nó còn có mẹ. Còn ông, ông có biết cha mẹ mình là ai đâu, ông cũng không hiểu ông có mặt trên đời bằng cách nào, ông nhớ hồi nhỏ ông sống với một người đàn ông ốm o làm bảo vệ đường rầy xe lửa, người ta thường gọi thân mật là ” ông Tư đường rầy”, còn ông gọi là bố Tư. Có lần ông luật sư nghe bọn thằng Mãnh, thằng Vệ tối tối thường rũ nhau đi giật túi xách của người đi buôn bán qua lại đường rầy được cũng khá tiền về chia nhau, hồi đó ông nhát gan lắm, bọn nó rủ rê mãi nhưng ông không dám vì bố Tư của ông thường dạy rằng dẫu có đói thì chết chứ không được ăn trộm ăn cướp của người ta nhục lắm con ạ. Ong dạ vâng cho qua chuyện chứ cái mộng có nhiều tiền vẫn nung nấu trong lòng ông. Một đêm kia, một đêm trăng tháng mười vằng vặc sáng, thằng Mãnh xuất hiện trước nhà ông, gọi là nhà cho đỡ tủi chứ đấy chỉ là cái chái được ghép bằng mấy miếng tôn múi, đá và bùn trét lại:” Trung còi ơi, Trung còi ra tao bảo này. Mày muốn có tiền mua xe đạp không, có mối này ngon lắm. Bọn buôn tràm tháng này thường đi qua đây lắm, bọn đó có nhiều tiền mình thử một chuyến đi…” Sỡ dĩ bố Tư đặt cho ông cái tên Trung là vì bố muốn đứa con mình nhặt được sau này nó sẽ là đứa trung thành, trung hiếu, trung tín… đại loại là biết trung …đủ thứ.Tiếng thằng Mãnh thì thầm bên tai như một liều thuốc bổ đang len lỏi trong từng mạch máu ông. Cứ liều một chuyến xem sao. Người ta có tiền buôn bán tất nhiên người ta phải giàu hơn mình, người ta có mất keo này người ta lại bày keo khác. Phải mất một khoảng thời gian dài suy nghĩ, đắn đo, ông mới lấy can đảm bước vào cuộc thử thách. Đêm hôm đó, hai thằng đến núp sau một lùm cây không ai có thể nhìn thấy, trong đêm trăng sáng, xa xa thấp thoáng một vệt đen hình quả lê đang di chuyển về phía hai thằng ăn cướp còm cõi như hai cây đu đủ mới lớn. Khi cái bóng đen tới gần, hai thằng cầm gậy nhảy xổ ra chặn lại, người nọ giật mình đánh rơi cái cuốc, thì ra là một người đi làm thuê về, mất công toi. Hai hôm sau hai thằng lại rũ nhau ra chỗ cũ, lần này tưởng được quả đậm nào ngờ chặn phải lão quét chợ. Hai lần đều thất bại ,ông cảm thấy giận thằng Mãnh vô cùng, những lời trách cứ của ông khiến Mãnh không dám đến rũ rê ông nữa.Có những đêm không ngủ được, ông nghĩ: không biết trên đời này mình là người nghèo nhất hay là những người mình định cướp nghèo nhất. Ong bật cười cho ý nghĩ ngu ngơ của mình.

Một buổi sáng lạnh buốt, khi ông vừa tỉnh giấc vì tiếng gió đập mạnh ở cửa trước, trong ánh sáng tinh mơ ông thấy một hình người nằm ngay ở ngoài cửa gần đường rầy, một con chó hoang đang đánh hơi xung quanh, ông cúi xuống run lẩy bẩy trong làn gió buốt thấu xương. Bố Tư nằm sấp mặt. Bàng hoàng, ông lật lại, cơ thể người bố đã cứng đờ, mặt mày tái nhợt. Trong những ngày tiếp theo tai hoạ đột ngột hãi hùng này, ông dần dần nghĩ ra rằng mọi việc đều diễn biếntheo số phận nào đó đã được an bài. Đám tang bố Tư vẫn đông hơn đám tang bà ngoại thằng Vệ nhờ có một số công nhân đường sắt, ông luật sư đi trong đám tang lòng chết lặng.

Ong luật sư vẫn chứng tỏ là một người bạn tốt sẵn lòng nhường căn nhà nhỏ bécho bọn thằng Mãnh, thằng Vệ, thằng Lộc có chỗ trú thân, ông thu nhặt đồ đạc vào một cái túi vải cũ bạc màu của bố Tư, rồi ông đếm lại những tờ bạc của những người dân nghèo  có chút nghĩa hiệp sống quanh quẩn bên đường rầy gom góp lại cho ông làm lộ phí. Ong bỏ những tờ bạc vào túi quần thận trọng như những tờ chứng khoán loại một. Buổi sáng hôm ấy, bọn thằng Mãnh ,thằng Lộc tiễn ông ra ga, khi mấy anh em bắt tay nhau ông tự hỏi không biết có còn gặp lại nhau nữa không, bóng thằng Mãnh đứng ở sân ga nhỏ dần, nhỏ dần trong đám sương mù nhẹ mỏng của một buổi sáng mùa đông.

— Có hy vọng gì  cứu thằng Sang không anh Trung? Tiếng bà Diệu đột ngột cất lên kéo ông về thực tại ” anh Trung” ôi cái tiếng gọi này đã hơn hai mươi năm rồi bây giờ ông mới được nghe lại. Trong một thoáng ông luật sư nhìn thấy mọi thứ đều liên quan tới mình. Nụ cười của Diệu, đôi mắt long lanh thương mến của Diệu, mọi say mê và mệt mỏi, vui cười và đau khổ, xúc động và chán chường, ông ngoái đầu lại nhìn qua vai mình nói:

—Dù thế nào chăng nữa em có thể trông cậy ở tôi. Tôi hứa bảo vệ mẹ con em. Người tốt thì ở đâu cũng sống được em ạ.

— Em rất tiếc đã  đặt anh vào hoàn cảnh này. Giọng bà Diệu căng thẳng hơn— Nhưng nếu con em có bề gì lâm vào cảnh tù tội, làm sao em sống được, em tin nó vô tội anh ạ

Tất cả cũng chỉ  vì nghèo phải không anh?

—- Nhưng tại sao em nghèo?. Ong sẳng giọng

Những hình ảnh buồn bã  ngày nào hiện ra trong đầu Diệu, bà thấp giọng:

— Hãy tha thứ cho em cũng như ….cho ….cha mẹ …em nữa. Nếu không…

— Đừng nghĩ quẩn, mhìn lại phía sau có ích gì. Bao giờ người ta cũng nhìn về phía trước. Đã hơn hai mươi năm rồi và anh đã quên….

Mấy ngày nay cả thị  trấn xôn xao lên rằng một thằng bé làm công dám giết ông chủ của mình để chiếm đoạt của cải, nó giết ông chủ nó bằng một ly nước trà có độc dược. Chứng cớ dựa vào lời đồn, nó sẽ không làchứng cớ được thừa nhận ở toà trừ khi thằng bé chứng minh được sự vô tội của nó. Khi uống hết cốc nước, ông luật sư thấy những khó khăn hiện ra trước mắt. Nếu thằng bé thật sự không chứng minh được sự vô tội của nó, thì đó là chứng cớ gián tiếp làm cơ sở chống lại ông. Trong khi dấu tay của nó in rõ ràng trên cái ly mà ông chủ nó đã uống và tắt thở sau đó 18 phút. Sau vài lời an ủi bà Diệu, ông luật sư trở về nhà khẩn trương làm mọi việc tiếp theo của vụ án. Chỉ còn hơn hai tuần nữa phiên toà sẽ khởi tố. Thằng bé mười lăm tuổi sẽ đướng trước vành móng ngựa với tội trạng chắc hẳn là tội giết người.

Ong luật sư cố gắng chợp mắt, ông đã quá mệt mỏi, ông rơi vào tình trạng nủa thức nửa ngủ. Ong không biết mình ở trạng thái đó bao lâu, nhưng sao đôi mắt lặng lẽ có phần chịu đựng kia của Diệu cứ hướng về ông mãi, ông nhớ lại lời bà Diệu nói khi sáng ” tất cả cũng chỉ vì nghèo phải không anh”… Nghèo! Có thể đúng Diệu ạ, vì nghèo mà tôi đã mất em, vì tôi nghèo mà cha mẹ em không cho chúng mình sống bên nhau. Ong nhớ lại cái buổi sáng mùa đông năm ấy, ông rời khỏi căn nhà nhỏ bé đầy kỷ niệm lên tàu hoả về thành phố kiếm sống, lúc ấy ông cũng trạc tuổi thằng Sang bây giờ. Khi tất cả sự khốn khổ lùi lại sau lưng, cái gì mới mẻ đang chờ đón ông trên đường tầu này, may mắn hay bất hạnh? Chợt nước mắt ông trào ra. Nếu không có những lời hỏi han của người đàn ông bên cạnh, chắc ông đã khóc thật to lên rồi. Qua những lời thăm hỏi làm quen, ông luật sư biết được ông ta là một thương gia. Biết hoàn cảnh của ông, người thương gia đem ông về nuôi để giúp việc vặt trong nhà, thời gian sau ông được người thương gia tin cẩn thương yêu nên ông được đi học. Vì học muộn nên ông lớn tuổi nhất lớp, ông cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng người cha nuôi thứ hai này. Khi lên đến cấp ba ông quen và yêu một nữ sinh, con gái của một vị sĩ quan. Cô gái đó là Phan thị Bích Diệu, ông nhớ lời ông sĩ quan mắng con gái khi ông vô tình đến nhà thăm:” tao không thể gã con cho một thằng không cha không mẹ, không tông không tích, mày có biết nó chỉ là con nuôi của thằng cha đi buôn đó không, nói tóm lại nó chỉ là một thằng ăn nhờ ở đậu mà thôi. Tao mà thấy mày còn lui tới với thằng đó nữa thì đừng trách tao…”. Ong loạng choạng trở về nhà, danh dự bị tổn thương , ông quyết định không gặp Diệu nữa.

       Một tháng, hai tháng rồi ba tháng trôi qua, một đêm kia, một đêm tháng mười trở gió nhiều Diệu đến tìm ông khóc xướt mướt, hết tháng này gia đình Diệu sẻ chuyển về nơi khác vì ba Diệu được thăng quan tiến chức và ông sẽ gã chồng cho Diệu là con trai độc nhất của một ông sĩ quan bạn của ba Diệu. Diệu nài nỉ ông hãy đến thuyết phục ba Diệu để hai người được sống bên nhau, nhưng vì lòng tự trọng, ông đã xua đuổi Diệu bảo nàng hãy về với gia đình đừng yêu làm gì một thằng nghèo hèn như ông. Hai người mất nhau từ đấy. Một buổi sáng đầu xuân, người bố nuôi thương gia đưa ông đến toà án để làm hộ tịch, coi như từ nay ông đã có một gia đình thật sự và một niềm vui nữa là ông đã tốt nghiệp cấp ba và chuẩn bị thi tú tài toàn phần. Tối hôm ấy, sau bữa ăn ông nhận thấy trên nét mặt người bố nuôi có ẩn chứa một điều gì là lạ, người bố ngồi im hồi lâu mắt đăm đăm nhìn vào hư vô, trong lúc vầng trăng đã lên cao vượt quá những ngọn bàng cao lớn bên kia đường, hàng giờ đã trôi qua. Thỉnh thoảng môi ông bố mấp máy như muốn nói, nhưng lại không nói gì. Cuối cùng để phá tan sự im lặng và cũng để như dò xét người bố, ông nói:

__ Bố ơi nếu năm nay con thi đỗ tú tài bố cho con đi theo bố  chơi một chuyến bố nhé.

Ong bố mỉm cười âu yếm nhìn  con:

__ Chuyện đó không quan trọng, miễn là con quyết tâm thi đỗ thì đi đến đâu bố cũng cho đi con ạ. Mặt ông luật sư ngời lên một niềm hy vọng:

__ Con đã quyết tâm thì  được thôi bố ạ, bố hứa với con đi bố.

__ Ừ bố hứa. Niềm hy vọng lớn nhất của bố bây giờ là con đấy nhé.

Hai bố con ngồi im lặng hồi lâu mỗi người theo đuổi một ý tưởng. Ong luật sư nhớ lại cái đêm hôm đó, cái đêm trước ngày ông rời bỏ căn nhà bằng tôn múi, trăng cũng sáng như đêm nay, ông lặng lẽ tới nghĩa trang thắp nén nhang cuối cùng để chào tạm biệt bố Tư. Cổng nghĩa trang khoá kín, ông trèo qua hàng rào dây thép, trăng tròn giữa bầu trời mùa đông trong sáng in bóng ông vắt ngang nấm mồ của bố Tư. Sáng hôm sau tựa vào cửa sổ toa tàu  đi về thành phố, ông đăm đăm nhìn lần cuối cái thị trấn nhỏ bé nơi mình đã ra đời, đã lớn lên trong khốn khổ khốn nạn.

      Hai tuần lễ sau, trong một đêm thành phố đang chìm vào giấc ngủ, ông luật sư đang mơ về những điều giản dị nhất. Bỗng có nhiều tiếng chân bước đều lên thềm nhà, rồi tiếng chân bước lên cầu thang, rồi nhiều tiếng động lạ, tiếng nói lạ. Tình thế xem chừng khá ác liệt, ông áp tai và đôi mắt ngái ngủ vào lỗ vách, ông thấy một toán người đang trói bố nuôi ông bịt miệng dẫn đi. Ong đứng như trời trồng. Tiếng một chiếc xe jeep lướt đi trong đêm khuya làm ông tỉnh ngủ hẳn. Ong bước xuống nhà chạy ra ngoài sân, chỉ có đám khói mù điên cuồng man rợ đã cuốn mất người cha nuôi dấu yêu của ông. Sau này qua một thời gian tìm hiểu manh mối ông mới biết được người cha nuôi của ông là một người chiến sĩ cách mạng, ông bí mật hoạt động qua cái lớp thương gia, buôn đông bán tây để tiện lợi cho việc chuyển vũ khí, thuốc men cho bộ đội. Không hiểu sao bọn mật thám biết được, nên bí mật đem ông đi thủ tiêu. Ong luật sư lại một lần nữa mất đi người thân yêu. Từ nay, ông phải một mình đương đầu với tất cả, ông nhận thấy cái tấn bi kịch tiếp theo đang đe doạ ông.

                         ***********

       Phiên toà họp lại trong không khí oi bức, thời gian trôi đi chẳng cần nhắc nhở ai cũng biết mùa hè đang thực sự đến. Trong phòng xử án. Mọi người xì xào chờ đợi được nghe bằng chứng về vụ một thằng bé mười lăm tuổi đầu độc ông chủ của mình. Khi viên chánh án và đoàn bồi thẩm đã trở lại chỗ ngồi. Chủ toạ phiên toà hô to:

__ Mời bị cáo lên.

Thằng bé hơi lảo  đảo bước lên ,hai bàn tay nắm chặt lấy cái vành móng ngựa. Trong một thoáng, mắt nó nhìn khắp  đám đông quanh chỗ ngồi của các luật sư, nó cảm thấy hoàn toàn yên tâm vì sự có mặt của lụât sư Trung, người quen của mẹ nó và là người nó vô cùng tin cậy. Qua một số thủ tục hỏi đầy đủ tên họ, nghề nghiệp thằng Sang, thằng bé vẫn một mực kháng án : — Cháu không hề giết ông ấy, cháu rất kính trọng ông chủ của cháu vì ông ấy cũng rất thương cháu…. Lời lẽ ngây thơ, chân thực của thằng bé không thể là động cơ giết người được.

__ Chiều hôm ấy cháu thấy ông chủ đi làm về có vẻ mệt mỏi, ông không ăn cơm tối, ông vào phòng đóng cửa lại, khuya rồi mà đèn vẫn còn sáng rọi qua cửa sổ phòng cháu. Cháu vừa chợp mắt được một tí thì có tiếng ông gọi rót cho ông ly nước trà, cháu bưng ly nước vô định để trên bàn như mọi khi, ông ra dấu cho cháu bưng lại giường, cháu thấy ông có vẻ mệt lắm, cháu đưa ly nước vào miệng cho ông uống rồi ông nằm xuống giường, cháu tắt đèn và về phòng mình. Cháu cảm thấy có điều gì đó không yên tâm, cháu đẩy nhẹ cửa bước vào bật đèn lên, cháu thấy ông chủ hai tay buông thỏng, đầu nghẹo sang bên, mép có sùi bọt, cháu hoảng quá chạy qua đập cửa nhà ông bà Triết báo tin này.

Thằng bé phải thề  kể sự thật theo lời  yêu cầu của viên chánh án. Ong bà Triết cũng làm chứng như thế. Luật sư Trung tựa lưng vào ghế, lắng nghe nốt cuộc thẩm vấn. Quả là lạ lùng, lúc này ông cảm thấy điềm tĩnh và bình thản vô cùng. Nó giống như một vở kịch nào đó đang trình diễn ở rạp hát. Rồi sẽ đến lượt ông ra trước toàbảo vệ công lý cho thằng bé, bảo vệ công lý cho người nghèo. Ong đưa mắt nhìn các nhà báo đang hí hoáy viết, hí hoáy ghi chép. Ừ, viết đi, cứ viết đi rồi lát nữa ta sẽ có một cái gì đó đáng giá thực sự để cho cả xã hội, cả thiên hạ biết thế nào là giá trị của công lý. Ong luật sư nghĩ thầm như thế. Ong quan sát đôi mắt sẫm mầu, những ngón tay gầy guộc bấu chặt lấy mép ghế, hai má hóc hác vì mất ngủ của bà Diệu. Bỗng ông luật sư nhếch miệng cười và đứng lên:

— Mời bác sĩ Lê  Hoàng lên ghế nhân chứng.

Đầu mọi người đồng loạt quay ngoắt lại để xem nhân chứng này là ai. Những bước chân gấp gáp của vị bác sĩ vang lên trong phiên toà yên lặng đầy tò mò. Sau vài lời tự giới thiệu theo thủ tục, vị bác sĩ bước thẳng lên bàn bồi thẩm đoàn trình lên mấy mảnh giấy và về ghế nhân chứng. Vị thẩm phán cầm mấy mảnh giấy đưa lên cao trình trước phiên toà:

__ Thưa quý toà đây là giấy xét nghiệm bệnh trạng của ông Tôn thành Danh cách đây mười năm, còn đây là bức thư mà cơ quan điều tra đã tìm được trong ngăn kéo của ông, và đây là tờ di chúc mà luật sư Hoành có nhiệm vụ chứng thực cho ông.

Không cần nói gì thêm, mọi việc đã rõ ràng, bức thư có nội dung:– …. Sau khi biết mình bị nhiễm căn bệnh tai ác HIV ông Danh quyết định trốn gia đình lên thành phố này sinh sống, thời gian gần đây ông có thuê thằng Sang đến giúp việc vặt  coi nhà cho ông đi làm và bầu bạn với ông cho đỡ cô đơn. Cách đây hai tháng ông phát hiện có dấu hiệu lạ nổi khắp người, ông quyết định kết thúc cuộc đời bằng những viên độc dược. Còn nữa, nội dung tờ di chúc…. Tôi để lại căn nhà số…, đường….và toàn bộ tài sản cho cháu Trần Kim Sang…..

         Trong sáng như tiếng chuông, những lời của viên chánh án vang khắp phòng xử án ” bị cáo Trần Kim Sang hoàn toàn trắng án. Cháu sẽ được hưởng quyền thừa kế khi đã đủ mười tám tuổi”

Mắt bà Diệu ươn ướt chậm rãi quay sang nhìn ông luật sư đầy xúc động khiến ông cảm thấy nó mang một ý nghĩa đặc biệt. Ong nhủ thầm: Rồi sau này em sẽ phải kể cho tôi nghe về cuộc sống của em ,vì sao từ con gái của một vị sĩ quan giàu có em lại về sống ở khu phố nghèo này, vì sao em có thằng Sang…rồi tôi sẽ kể cho em nghe về đời tôi, đời của một thằng bé khốn khổ trở thành luật sư như thế nào.

Buổi hoàng hôn của một ngày mùa hạ nóng bức. Sau tất cả sự việc  đã xảy ra, đã kết thúc, ông luật sư vẫn chỉ có một mình, đi một mình, về một mình, đã nổ lực một mình, đã cố gắng một mình để bảo vệ công lý cho một người mà ông ngỡ như cho chính mình. Vầng trăng bán nguyệt đã mọc ở khoảng trời xa xa, rọi chiếu trên những bức tường đồ sộ của những toà cao ốc, rọi chiếu trong những con ngõ sâu tăm tối khô khốc. Ở một chỗ nào đó, bên ánh đèn của một gian phòng nhỏ thể nào cũng có nụ cười của một người vừa tìm được niềm vui. Tất cả đều vô tận còn cuộc đời con người là khoảnh khắc. Ong luật sư bước đi dưới ánh trăng và tự hỏi: Tôi sẽ ở đâu đây.

Đặng Thị Thanh Liễu