NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT – PHẦN III – La Thụy

0
36

Sau khi giới thiệu dạng thơ bình thanh, dạng thơ đọc nhiều cách và dạng thơ Việt đệm ngoại ngữ đến quý bạn đọc. Hôm nay, chúng tôi mời quý bạn đọc thưởng thức thêm một dạng thơ Việt Nam đặc biệt nữa, đó là dạng thơ nói lái                       

 

NHỮNG DẠNG THƠ VIỆT NAM ĐẶC BIỆT – PHẦN III :

                                  THƠ NÓI LÁI

 

Những nhà thơ chuyên viết dạng thơ nói lái là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhà thơ Bùi Giáng, nhà thơ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi, nhà thơ Võ Quê.

 

Đọc thơ HỒ XUÂN HƯƠNG, chúng ta thấy bà nói lái thật dí dỏm:

 

     Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,

     Trái gió cho nên phải lộn lèo. 

                          (Kiếp Tu Hành)

 

     Quán sứ sao mà cảnh vắng teo

     Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo.

     Chày kình, tiểu để suông không đấm,

     Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo. 

                           (Chùa Quán Sứ)

 

     Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,

     Rủ chị em ra tát nước khe. 

                             (Tát nước)

 

     Thú vui quên cả niềm lo cũ

     Kìa cái diều ai nó lộn lèo. 

                        (Quán Khách)

 

Nhà thơ trào phúng TÚ MỠ (Hồ Trọng Hiếu, 1900-1976) có bài "Lỡm cô Ngọc Hồ" với hai câu nói lái phong cách Hồ Xuân Hương:

 

      HỒ tù ngán nỗi con rồng lộn

      NGỌC vết thương tình kẻ cố đeo

      (Nhắn khách Băng Tâm ai đó tá

      Mỹ danh hai chữ, nghĩ buồn teo.)

 

Nhà thơ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi (1881 – 1968) là nhà thơ Huế giàu tài năng ông xuất thân nho học, thông thạo chữ Hán, am hiểu tiếng Pháp và chữ quốc ngữ. Ông đã làm những bài thơ nói lái như sau:

     

     Cầu đạo nên chi phải cạo đầu

     Dầu lai dưa muối cũng dài lâu

     Na bường bát tới nương bà vải

     Dầu sãi không tu cũng giải sầu.

 

     Làng vọng còn hơn cái lọng vàng

     Mang sơ tấm áo, chớ mơ sang

     Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn

     Hang lỗ tìm vào bắt hổ lang

 

     NHỚ BẠN 

 

     Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc

     Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông

     Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi

     Công khó chờ nhau biết có không 

 

     ĐÊM ĐI ĐÒ ĐẬP ĐÁ

 

     Đập cũ đò đưa đủ cặp đời

     Trời cho sức khỏe lắm trò chơi

     Có đôi, khi rảnh lên côi đó

     Cười ngả nghiêng cho mệt cả người

                                             Thảo Am 

           

Hoặc một số bài thơ khác:

 

    Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi

    Chơi ngỗ xong rồi, kiếm chỗ ngơi

    Bến đậu thênh thang, mời bậu đến

    Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.

 

    Mỗi độ xuân sang chả có gì (chỉ có già)

    Giàu sang, keo kiệt để mà chi? (đĩ mà chê?)

    Vui xuân chúc tết cầu gia đạo

    Cạn chén tiêu sầu tiễn người đi.

    Lũ quỷ nay lại về luỹ cũ

    Thầy tu mô Phật cũng thù Tây

                                  Thảo Am 

                                    (1946)

 

    Trông khống vô phòng thấy trống không

    Chứa chan sầu lệ chán chưa chồng

    Dòng châu lai láng dầu chong đợi

    Bóng nhạn lưng chừng, bạn nhóng trông

    Nhòm ngó đã cùng nơi ngã đó

    Mơ mồng bên cạnh gối mền bông

    Đêm thâu mưa gió đâu thêm mãi,

    Xông lướt đi tìm phải xước lông.

 

Nhà thơ BÙI GIÁNG, tự gọi mình là Bán Dùi, Bàng Giúi vì ông ưa nói lái. Ông thường dùng những từ như: tồn lưu, lưu tồn, tồn liên, liên tồn, tồn lí tí ngọ, tồn lập tập trung, tồn lập tập họp… trong thơ của ông

 

      Lọt cồn trận gió đi hoang

      Tồn liên ở lại xin làn dồn ra

                           (Mưa nguồn)

 

     Cá ở ngoài khe có ít nhiều

     Cồn lau cỏ lách có hoang liêu

     Em về có hỏi răng ri rứa

     Nhắm mắt đưa chân có bận liều.  

                                (Bờ trần gian)

 

     Quá khứ liên tồn vô ngấn tích

     Sáng tiền minh nguyệt chiếu hoàng mao

     Hai hàng mọc cỏ thu sương ngậm

     Vành vạnh lê hoa chước chước chào… 

      (Sa mạc phát tiết, Quỷ ma đối thoại)

 

     Không trước tồn lập con mèo,

     Thì trước tập trung con cá 

     Không trước liên tồn cái lá, 

     Thì trước tồn lý lún phún in rêu 

                             (Chấp Trước)

 

     Có mấy ngón

     Năm ngón

     Mười ngón

     Món người

     Non ngắm

     Nắm ngon

     Hoặc là năm ngón nón ngăm

     Màu đi trên nước cá tăm chuyên cần

     Nón ngăm dặm bóng xoay vần

     Đọng nơi góp tụ và chần chờ đưa.

                        (Trong bàn chân đi)

 

    Tháng theo ngày dậy rằm xanh nguyệt

    Ba góc càn khôn lộn bốn trời. 

        (Sa mạc phát tiết, Đường cong) 

 

"Ba góc càn khôn lộn bốn trời" chỉ là ngôn ngữ tượng trưng trong thi ca, nhưng chắc phải quyến rũ lắm, đam mê lắm, nên Bùi Giáng mới ngất ngây giữa thi tứ như rứa…

Nhà thơ Nguyễn Thái Dương cao hứng lên làm một bài thơ lái thật tinh nghịch. 

 

     Mực ngò, mực ngó, mực ngằn

     Mực, bao nhiêu mực chẳng bằng mực nghi

     Chao ôi bất luận mực gì

     Vẫn thua mực ngút li bì sớm hôm.

 

Nhà thơ Võ Quê xứ Huế, bắt đầu làm một bài thơ nói lái cảm tác từ trận lụt kinh hoàng năm 1999 ở Huế:

 

     Trời lụt ca nhi cũng trụt lời

     Trời đong mưa lũ xuống trong đời

     Vái lạy lụt tan lành váy lại

     Đời cho du khách dạo đò chơi.

 

Bài thơ này được thi hữu truyền tụng ngâm ngợi khi trà dư tửu hậu, tạo đà cho tác giả tiếp tục sự nghiệp “thái lơ” của mình. Ông viết một loạt 50 bài THƠ LÁI in trong tập NGƯỢC XUÔI THẾ SỰ, do nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2011.

      Đầu năm thi tứ nằm đâu?

      Sắc màu nhân thế đượm sầu mắt ai?

      Ngược dòng thế sự láng lai

      Lang thang nhặt lái một vài câu chơi!

 

Có bài thơ ông nói lái bỡn cợt bông đùa, tung hứng cùng bạn rượu:

 

      Một chai mai chột, coi chừng!

      Nhị chai nhai chị tưng tưng ngà ngà

      Ba chai là bai nghe cha!

      Bốn chai cẩn thận kẻo mà bái chôn

      Ngũ chai ngai chủ hùng hồn

      Sáu chai sai cháu bếp cồn luộc tôm!

 

Có khi, bỗng nhiên ông TỰ HỎI:

     Viết câu chi đó?

     Có viết chi đâu!

     Trống rỗng tim, đầu

     Tìm đâu chữ nghĩa…

Rồi bật cười, ông lại TỰ TRÀO:

 

     Mùa lễ hội thơ hoa lỗi hệ

     Lục bát đành lạc bút từ khuya

     Đợi lâu mới biết đâu có lợi

     Bìa treo đây mai ruột đầy bia?

 

Những vấn đề thời sự xã hội gieo cho nhà thơ Võ Quê trăn trở:

 

     Dầu xăng tăng giá dạ giăng sầu

     Đầu tiên trăn trở bạc tiền đâu

     Giật gấu vá vai theo vật giá

     Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau!

 

     ***

     Biến chất điếm đàng đi chiếm đất

     Cánh đồng xoang bởi quán đồng xanh

     Hối mại chức quyền gieo mối hại

     Lanh mưu thoái hóa thật lưu manh!

 

     ***

     Dân mình hiến đất xây trường

     Quan tham lấn đất trầy xương thầy trò

     Học đường lắm nỗi sầu lo

     Quan tham thì vẫn trùm sò dài lâu.

 

Ngoài nhà thơ Thảo Am, nhà thơ Bùi Giáng, nhà thơ Võ Quê còn có các nhà thơ Bùi Tiến, Tường Linh, Y Nguyên… cũng sáng tác thơ nói lái.

   

   LOẠN

 

   Loạn thật đau thương, đời thật loạn

   Đông Tây muôn kiếp vẫn Tây Đông

   Trái ngang ai kẻ phân ngang trái

   Không thấy thanh bình, ai thấy không ?

                                               Bùi Tiến

 

    LỠ THÌ BÁT PHỐ

 

    Ngày tối mơ màng một mối tơ

    Mơ chồng nên luống nhũng mong chờ

    Có người phơi phới vui cười ngó

    Riêng tớ êm rơ tiếng khóc hờ

                               Y Nguyên

 

Có cuộc xướng họa thơ nói lái của các nhà thơ Bùi Tiến, Y Nguyên, Lão Dương, Tùng Linh thật vui nhộn như sau:

 

    VÒI VĨNH VỢ, VỢ… VỜ VĨNH

 

    Chồng yêu mà vợ chẳng chiều ông

    Lại tống lầm đi một tấm lòng

    Biết vậy thà ngồi mà viết bậy

    Bế bồng khăng khít cũng bằng không !

                                            Lưỡng Dao

 

Bùi Tiến trả lời thay Lão Dương (nói lái của Lưỡng Dao) phu nhân:

 

    CÓ NÊN CHIỀU ÔNG CHỒNG YÊU ?

 

    Không ông đâu được phải không ông

    Nghe lóng rồi ra cũng rối lòng

    Táo bạo, xưng ông, chà táo bạo

    Chồng khiêu khích vậy, đáng chiều không ?

                                                       Bùi Tiến

 

Lão Dương phu nhân bổ túc Bùi đại nhân :

 

    CHỒNG CHÍ CHÓE

 

    Lòng thòng em quá, chẳng thèm ông

    Long tong lờ lửng sợi tơ lòng

    Lài rài mấy chén xong rầy mãi

    Lốc thốc khinh đời rứa thích không ?

                    Lão Dương đại phu nhân

 

Đến lượt Nhị phu nhân lên tiếng:

 

    VỢ VẪN VẤN VƯƠNG

 

    Chồng ơ thờ mấy cũng chờ ông

    Lêu lỗng tầm đâu được tấm lòng

    Cậy chàng yên vị, ông càng chạy

    Công khó chờ ông biết có không ? * 

                Lão Dương nhị phu nhân

  * Trộm phép đạo thơ cụ Thảo Am

 

Tam phu nhân cũng cất lời :

 

    MÈO NÀO CẮN MĨU NÀO

 

    Chồng ôm thủ thỉ bám chồm ông

    Long đầu hai vị chớ đau lòng

    Tắc tíc gia truyền môn tíc tắc

    Khởi công khe hở khẽ cởi… không !

                         Thay mặt Tam Muội

                                 Tùng Linh

 

Nhị nương và Tứ nương chỉnh Tam nương :

 

    LỬA TAM MUỘI – QUẠT BA TIÊU

 

    Đã bốc ăn rồi lại bắt ông

    Buông lỏng, lừa nhau cướp lửa lòng

    Quạt Ba Tiêu bạt qua Tam Muội

    Lộc bổng kho đầy lại bỏ không !

                  Nhị nương và tứ muội

 

Bùi Tiến đại nhân nhắn nhủ :

 

    GỬI CÁC PHU NHÂN BÉ

 

    Bồng, A! ba bốn cũng Bà Ông

    Lừa lọc đuờng đời, cốt được lòng

    Cát Lũy cố ganh phần Quý Lạt

    Công không yên phận kẻ công không

            Thay mặt Lão Dương phu nhân

                              Bùi Tiến

 

Quý phu nhân không những xổ nho cùng điển tích mà còn xổ tiếng Tây, tiếng U (Ah Bon – Bồng, A) ra nữa, chắc chắc Lão Dương mệt hung rồi đây! Nhưng, nghe các bà om sòm ỏm tỏi, Lão Dương chẳng những không đòi dưỡng lao mà còn dọa sẽ nổi dóa bốc đồng lên :

 

    BỊT MỒM BỐN MỤ

 

    Mọi phòng yên hết ! Chớ phiền ông 

    Cả rống làm ông rối rắm lòng ! 

    Xáo, xào không học, lo xào xáo 

    Ông bốc, khiêng bà nữa, biết không !

                                          Lão Dương

 

"Hốt văn sư tử Hà Đông hống" như rứa mà Lão Dương còn cương mãnh, trị được bệnh xào xáo của bốn bà, oai phong thiệt! Người sưu tầm THƠ NÓI LÁI này xin bái phục!

 

Nhà thơ Thái Quốc Mưu cùng thi hữu trong lúc trà dư tửu hậu cũng vui xướng họa thơ nói lái.

 

    CẢNH THU

 

    (Hay bài thơ “lạc vận mà không lạc” )

    Thu đội lá vàng ta đội thu

    Tranh thu rồng lộn giữa mây mù

    Trên cành đổ lá con công ngủ

    Chiếc võng nghiêng đầu dáng mẹ ru

    Góc đá chàng trai ngồi lặt cỏ

    Ven song mấy ả đứng rờ hoa

    Trong thuyền cô gái chôn lời vội

    Chàng trẻ khom lưng bít lỗ lù      

                        Thái Quốc Mưu

 

   THU ĐẬM SẮC MÀU

 

   Thu đệm nhạc buồn đậm sắc thu

   Thu ca lời hát đẫm sương mù

   Thu cong mặt lá vàng phiên khúc

   Thu cỡi đài hoa tím điệu ru

   Thu Vũ đại ca tay lắc cọ (1 )

   Thu huynh Thái Quốc trí tìm mưu (2 )

   Thu nhiều cảm xúc hồn lơ láo

   Thu cũ trong ta hiện lú lù                       

             Thiết Bình Nương Tử

 

   (1) Anh Vũ Hối chỉ với cây cọ long mà viết như vẽ tranh 

   (2) Anh Thái Quốc Mưu

 

Anh Nguyễn Văn Quang cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị (1967 – 1970), có những câu thơ nói lái vui như sau:

 

    Bố nghi bí ngô báo đi bí đao,

    Can ông công an đi ông đông y!

    Nhà lợp tồn lo nắng cực!

    Tập thể giục tập thể tập thể dục tập thể

                                 Nguyễn Văn Quang

 

Chúng tôi giới thiệu thêm một số câu thơ nói lái truyền khẩu của nhiều tác giả khuyết danh khác

                            

     "Chú phỉnh" tôi rồi "chính phủ" ơi,

     "Chiến khu" đong lúa "chú khiên" rồi

     "Thi đua" sao cứ "thua đi" mãi

     "Kháng chiến" lâu rồi "khiến chán" thôi !!!

 

     ***

     Phấn lau chưa dứt nghe pháo lân 

     Tân niên rót rượu mời Tiên nâng 

     Cô dâu hứa đải ăn dưa hấu 

     Chú rể tinh thần tựa tình thân 

     Có ông phó đảo châm pháo đỏ 

     Chú lính xuân qua muốn xa quân 

     Mang vài chậu kiểng mai vàng rộ 

     Xin tuần nghỉ phép thoả tình xuân 

 

    ***

    Về thường thăm lại vườn thề 

    Buồn lo trăm mối não nề bò luôn 

    Cuộn cho dùi mập cọ chuông 

    Người giàu sâu hiểm, chớ buồn dầu sao 

    Đau lòng lên tận Đông Lào 

    Thầy tăng ra đón, vẩy chào thằng tây 

    Tây đà vốn biết ta đầy 

    Bầy gà tre gạ đổi ngay ghe trà 

    Chả thằng nào bảo chẳng thà 

    Đổi trao như vậy chắc là đảo trôi 

    Vội ta mắc phải vạ tôi 

    Đành thôi vác chiếu về ngồi đồi thanh 

    Bánh ong* để dưới bóng anh . . . (bánh tổ ong) 

    Ăn rồi chợt nghỉ lanh quanh : Ôi rằng 

    Bắn trong khung vẻ bóng trăng 

    Làng thâm u quá cũng bằng lầm than 

    Ngang vài cung gấm ngai vàng 

    Khổ lòng ngắm thử y chang khổng lồ 

    Cố ra tìm bắt cá rô 

    Kho chi một tộ khi cho họ mừng… 

 

    *****

    Ban ngày lặt cỏ tối công phu

    Đậu ủ lâu ngày hóa đậu lu

    Ngày ta địa chủ, đêm tu đạo

    Đạo chi lạ rứa: "Đạo ù ù".

 

    *****

    Thầy giáo tháo giầy, tháo giáo án dán áo

    Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhòa cả hương

    Làm giáo chức, phải giứt cháo

    Thảo chương, rồi để được … thưởng chao

    Nhường luôn hết cả nhà xe, nhè luôn hết cả xương

    Nhường luôn miếng đất, nhất luôn cả miếng đường

    Nhường tới tận rau, nhàu luôn tới tận xương

    Nhường tới cái túi, nhúi … tới cái tường

    Lấy lương hưu, để lưu hương

 

    ***

    Chiều ba mươi, thầy giáo tháo giày ra chợ bán 

    Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang. 

 

     ****

    Thương em, muôn kiếp còn thương mãi, 

    Em nỡ đem tình anh thảy mương. 

    Đêm ngủ anh nằm thê thảm khóc, 

    Câu thề năm cũ quẳng ra đường…

                                              A Lin.

    *****

    Qua hố lội gặp thằng hối lộ

    Câu đầu tiên nó hỏi tiền đâu?

    Xin chữ ký? anh nghe kỹ chứ?

    Một đấu vàng? Ôi, thật váng đầu!

 

    *****                                             

    Má đưa con đi trong mưa đá

    Má đặt con lên mặt đá bằng

    Má đi vào xem mi đá bóng

    Má đang mang đá tới lót nền

    Má lột một lá dính vào phên

    Má lấy bên hè đi mấy lá

    Má lòn mòn lá cửa ngoài hiên

    Má cần mần cá để kho liền

    Má cắt con mắt cá đầu tiên

    Má cũng mua đầy hai mủng cá

    Má can con ăn mang cá kình.

 

    *****

    Con cá đối nằm trên cối đá

    Cô dâu hứa đi mua dưa hấu

    Cô láng giềng tắm bên giếng làng

   Thằng bé mồm to lặn lội mò tôm

 

    *****

    Gái Củ Chi, chỉ cu hỏi củ chi

    Thầy tu tâm lại rất thù Tây

    Thằng Tây cũng rất ghét thầy tăng

    Bức tranh lộng kiếng đem liệng cống

    Điều kiện đầu tiên là… tiền đâu ?

    Thầy giáo tháo giầy đi chân đất

    Tiền thân mình có phải thần tiên ?

    Kỹ sư giàu vẫn hơn cư sĩ nghèo

    Uống trà Thái Đức đêm thường thức đái

    Sống ở Thủ Đức năm canh thức đủ  

                                 

NÓI LÁI Ở NGÔN NGỮ KHÁC

 

Cách nói này cũng được nhiều  quốc gia khác sử dụng.

 

 Thí dụ trong tiếng Anh: "The Lord is a shoving leopard"  (thay vì "The Lord is a loving shepherd") – gọi là Spoonerism.

 

 Thí dụ trong tiếng Đức: "Auf der Liebesreise // sprach der Leibesriese: // "Reib es, Liese!" // Und sie rieb es leise." – gọi là "Wortdreher" hay "Buchstabend  reher", cách làm thơ có vần như thế gọi là Schüttelreim.

 

Văn hào VOLTAIRE của Pháp (1694-1778), tên thật là François Marie AROUET, lấy tên thành phố quê hương là Airvault (thuộc vùng Deux Sèvres) nói lái là Vault – Air để có bút danh Voltaire đó mà!

 

                                        La Thụy sưu tầm và biên tập

 

 

Có liên quan