NHỮNG NỖI VÔ CHỪNG – Truyện ngắn La Ngạc Thụy

0
38

Vì con ăn học, ông Thơi bán ruộng cũng hợp với lẽ đời, và đó cũng là lý do duy nhất. Nhưng đối với ông nó lại là nỗi đau, đau từ trong lòng, đau cắn răng chịu. Ở xóm Cầu Gió này có chừng hơn năm mươi mẫu ruộng. Những thửa ruộng dọc theo dòng suối Vàng Cạn lúc nào cũng màu mỡ hơn những thửa ruộng gò. Cả lúc dòng Kênh Tây chưa đưa nước về đây cũng thế. Ruộng dọc theo suối thì làm được ba vụ, nhờ bà con hùn công đắp đập ngăn suối dựng xa lấy nước, còn ruộng gò chỉ làm được một vụ lúa mùa vào giữa mùa mưa. Ruộng của lão Thông cặp suối, lại có hơn ba mẫu; ruộng của ông Thơi nằm ngoài mà chỉ có bốn công. Nên suốt đời cật lực đánh vật với ruộng ông Thơi vẫn không hơn được lão Thông. Mà làm sao hơn được lão kia chứ? Lúc còn trẻ, lão cũng là nông dân nòi, chơn chất, có ruộng đất do cha mẹ chia cho. Quanh năm cũng đầu tắt mặt tối với ruộng lúa. Ruộng càng nhiều càng cực thân. Sau khi lấy vợ, chỉ vài năm lão thay đổi thấy rõ. Vẫn làm ruộng, nhưng lão chỉ đi trên bờ chỉ trỏ và mắng công luôn mồm. Vậy mà tiền của cứ như nước chảy vào nhà lão. Đó là  nhờ vào bà vợ mắn đẻ, đẻ con cũng như đẻ tiền. Bà Thông lúc còn trẻ quen chạy chợ, cho vay. Nên khi về làm vợ lão Thông,  bà bày cho chồng bán hết lúa làm ra, lấy tiền mua lúa non và cho vay. Ở xóm Cầu Gió này, có hơn trăm gia đình làm ruộng thì hết tám, chín mươi người thiếu vốn. Vốn của nông dân chính là lúa. Tất cả nhu cầu ăn mặc, đám cưới, đám tang, đám giổ đều từ lúa. Đó là chưa kể một khoảng lúa lớn để tái sản xuất. Nhất là đến thời điểm lúa xây đòng, vốn lúa đã hết sạch. Thế là phải vay, có người chấp nhận bán cả lúa non, mà vay hay bán lúa non đều đến nhà lão Thông vừa gần mà chẳng cần thủ tục, cầm thế gì cả. Nhờ vậy mà tiền đẻ ra tiền, cứ thế mà lão Thông càng phất lên như diều gặp gió. Đã vậy, sau khi tuyến kênh Tây hoàn chỉnh hệ thống kênh nội đồng, việc tưới tiêu thuận lợi, nhờ có tiền lão chuyển dần sang lập vườn chôm chôm xen canh sầu riêng, lão càng giàu thêm. Lão có đến tám đứa con chớ ít sao? Việc nhiều con đối với vợ chồng lão chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống. Bởi nuôi con như vợ chồng lão thì đúng là chẳng việc gì phải lo. Đứa bé ôm hông đứa lớn, cứ thế mà lớn lên. Học hành thì được chăng hay chớ. Đủ tuổi cầm được cày thì lão cho nghỉ quách. Học cách kiếm tiền từ lúc mới lên mười. Ở vùng quê này, học cho cao cũng chỉ làm nông dân. Do vậy, dù lão có đến ba mẫu ruộng nhưng chẳng cần thuê mướn công cán gì cả. Gia đình lão vẫn sống khoẻ re và ngày càng giàu thêm.

 Còn ông Thơi thuộc dạng nông dân cần cù bù thông minh. Ông phải vất vả cả thời trai trẻ đi làm thuê cuốc mướn, dành dụm gần mười năm trời mới mua được bốn công ruộng gò, rồi mới cưới vợ sinh con. Bà Thơi cũng chẳng hơn gì ông. Cha mẹ mất sớm sống nương nhờ người dì ruột. Quanh năm cũng đi cấy, nhổ cỏ, chặt mì … mà sống. Hai người thương nhau rồi tiến tới hôn nhân. Ông Thơi ngẫm từ chính cuộc đời vợ chồng ông, mà ông quyết tâm cho con ăn học đến nơi đến chốn nếu chúng còn muốn học, để các con ông không phải vất vả cày xới  đất như vợ chồng ông. Vả lại, ngẫm từ sự đời, ở cái xóm Cầu Gió này, biết bao người làm ruộng, làm từ đời ông cho đến đời cha, bây giờ là đời con, cuối cùng cũng chỉ là “hai lúa”, chẳng thế nào thay đổi được. Kể cả lão Thông, lắm tiền nhiều bạc thế mà thiên hạ vẫn gọi ông là lão Thông cho vay. Thật ra, việc ông Thơi quyết định cho con ăn học đến thành tài, cũng chính từ chúng nó. Chúng noi theo cái tính cần cù của ông mà đứa nào cũng chịu khó, chịu khổ học hành, mà học giỏi mới chết chớ, năm nào cũng mang giấy khen về khoe và cứ thế đứa này theo gót đứa kia, đến nay đã có hai đứa leo tuốt lên đại học. Con Thới học năm thứ ba, thằng Thời theo gót chị học năm thứ nhất. Còn hai đứa nhỏ đang học cấp ba. Ong hơn lão Thông ở sự học của con, còn lại ông thua tất. Và cũng chính từ việc cho con ăn học của ông Thơi, mà lão Thông sinh lòng đố kỵ, ngầm ghen ghét ông Thơi. Ban đầu vì tự ái, lão Thông chỉ ghét ngầm. Sau biết ông Thơi vì cho con ăn học mà nợ nần tùm lum, lão chẳng cần uý kỵ nữa mà ghét ra mặt. Lão tuyên bố thẳng thừng: “Ai chứ vợ chồng ông Thơi mà hỏi vay tiền bạc của tôi, dứt khoát tôi chẳng bao giờ cho. Nghèo mà làm phách, bày đặt cho con học lên đại học, mà còn học công nghệ thông tin nữa chứ. Làm ruộng mà cần quái gì đến thông tin, thông tức!” Lão Thông ghét vợ chồng ông Thơi từ cái đận ăn giỗ nhà hàng xóm. Ông Thơi khoe, các con ông đứa nào cũng học giỏi, nên dù cực khổ thế nào ông cũng quyết tâm cho chúng nó học đến chừng nào chúng hết muốn học. Nghèo mà con học giỏi cũng an ủi được phần nào. Chứ giàu mà con cái chẳng bằng ai, tôi cũng chẳng ham! Lão Thông nghe được, cứ nghĩ là ông Thơi ám chỉ lão. Thế là lão ghét. Ghét cay, ghét đắng. Và lão ngày càng thấy ông Thơi càng chướng mắt, nhất là sau khi ông cải tạo ruộng thành vườn cây ăn trái. Ruộng của ông Thơi mỗi khi lấy nước đều rò rỉ xuống vườn cây của lão. Lão giận lắm, nhưng chẳng biết nói sao, vì ông Thơi đã làm ruộng lúa từ trước đến nay mà. Lão lập vườn thì lão ráng chịu. Thế là ý tưởng mua đứt ruộng ông Thơi đã hình thành trong đầu lão từ bấy đến nay. Nhưng ý tưởng vẫn là ý tưởng vì ông Thơi không bao giờ bán ruộng. Ong Thơi đã thề thế thì có trời mà mua được.

Kể từ ngày ông Thơi bàn với bà Thơi, rồi ông quyết định bán ruộng, bà cứ thấy ông suốt ngày như người mất hồn. Lúa đã vàng mơ rồi mà ông cứ đi thơ thẩn nhìn từng bông lúa cong quằn, lã ngọn với gió đông, thái độ ông lúc này khác với lúc cuống cuồng lên khi phát hiện lúa bị sâu rầy phá hoại. Hết đi thơ thẩn, ông Thơi lại ngồi bệt xuống bờ ruộng, trầm ngâm, mắt nhìn sóng lúa chập chờn mà như nhìn vào khoảng không gian vô tận. Rồi mỗi lần ngồi, như thói quen, ông thò tay  vào túi áo bà ba, móc gói thuốc rê ra, tẩn mẩn lần tìm cuộn giấy, rồi xé, vấn, đốt … rồi hút. Tính ông Thơi vốn vậy. Nhưng lần này bà Thơi thấy ông khác quá. Đã bàn bạc rồi. Đã tính hết nước rồi. Vậy mà còn buồn nỗi chi không biết. Chính ông bảo bà đừng lộ chút gì cho các con nó biết, nó cản. Vậy mà ông cứ … Bà Thơi nhìn ông rồi lắc đầu thở ra … đi vội ra sau nhà múc nước rửa mặt cho tinh thần sảng khoái trở lại. Bà cũng buồn lắm chứ. Mấy công ruộng chính là cuộc sống của gia đình bà, chắt chiu, lao khổ mấy mươi năm mà rời xa nó bà cũng không đành lòng. Bà nhớ từng lời của con Thới gọi điện về báo đang cần tiền làm luận văn tốt nghiệp: Má nói với ba ráng lo cho con lần này nữa thôi. Bà hỏi bao nhiêu? Nó nói chừng vài triệu. Trời đất tới vài triệu lận à? Ba má tìm đâu ra. Giọng con Thới buồn buồn: Ba má cố lo cho con. Rồi nó cúp máy. Nó sợ nói nữa, nó sẽ khóc mất. Con Thới là đứa con gái lớn, nó hiểu cảnh nhà. Nó biết vì lo cho chúng nó ăn học, bà và ông đã vất vả đến ngần nào. Nhất là từ lúc thằng Thời theo chân chị xuống Sài Gòn, con Thới báo là đã xin được một chân rửa bát trong một quán ăn. Nó nói: ba má đừng lo, con không xao nhảng việc học hành đâu. Rồi thằng Thời  cũng có việc làm trong một nhà hàng vào ban đêm. Ong bà đã đỡ lo khoản tiền cho chúng nó ăn uống, nhưng học phí, tiền nhà, sách vở thì tăng gấp đôi. Con cái người ta chỉ lo ăn rồi học, con cái của bà thì vừa làm vừa học. Không hiểu chúng nó xoay sở cách gì? Bà thương chúng nó quá. Và càng thương, ông bà càng thêm cằn cỗi ở nhà. Có lần chúng nó về thăm thấy ông bà tiều tuỵ quá chúng đòi nghỉ học. Ong Thơi giận quá đập vở cả bình trà: chúng mày bỏ học thì đi khỏi nhà tao. Con Thới sợ quá vừa lập cập nhặt từng mảnh sứ vở vừa khóc xin lỗi ông. Còn thằng Thời thì đứng yên ở góc nhà cúi đầu không dám nhìn ông. Bà đã năn nỉ  ông giúp chúng nó: Tội nghiệp con mà ông. Chúng vì thương và lo cho mình mới suy nghĩ nông cạn vậy. Đừng mắng chúng nữa. Và bà khoát khoát tay bảo chúng nó ra sau nhà. Từ đó, chẳng đứa nào dám hó hé gì đến chuyện nghỉ học, mà càng gắng sức làm thêm, gắng sức học.

Thật tình thì bà cũng đang buồn nẫu ruột, nẫu gan. Nói là vài triệu, nhưng khi bà hỏi thăm qua những người có con đi học đại học, thì ít nhất cũng mười triệu đồng. Bà nghe nói phải lo mọi khoản mà bà không nhớ hết, chỉ nhớ cái khoản đi thực hành, thực tỏi gì đó, tốn nhiều tiền lắm. Thời gian gần đây bà không còn nơi nào để hỏi vay tiền được nữa. Chừng vài trăm ngàn thôi còn không vay được nữa là tới mười triệu đồng? Nhất là từ cái đận rầy nâu phá hại lúa, khiến cả mùa vụ đó bà trắng tay và bà bắt đầu biết tới việc vay nợ. Không vay thì không có vốn làm lại. Vì mọi khoản dôi ra đều tập trung lo cho các con ăn học. Mà nợ khi vướng vô rồi thì không dứt ra được. Chẳng những không dứt ra được mà còn chồng chất thêm vì lãi mẹ đẻ lãi con. Nợ đã bốn năm trời rồi còn ít ỏi gì? Tính ra ông bà đã nợ hơn mấy chục triệu đồng. Bà đã vay khắp nơi rồi, cả ở ngân hàng, cũng vay mười triệu rồi. Chỉ còn chỗ lão Thông là bà chưa hỏi tới. Đôi lúc bà muốn bấm bụng sang hỏi vay lão, nhưng ông Thơi nhất định không cho. Ong nói thà cạp đất mà ăn chứ không thèm vay lão một xu.

Ông bà đã tính tới nát nước, vẫn không còn cách nào là bán ruộng. Bà nói, nợ thì không vay được nữa rồi, mà nợ cũ thì phải trả, không thể lần lựa mãi. Chưa kể cái khoản lãi mẹ đẻ lãi con. Ông thở hắt ra. Thôi thì bán ruộng vậy. Bán tất. Mới nghe thì tưởng ông giận dỗi. Nhưng khi nghe ông nói trắng ra thì chỉ còn nước này thôi. Nợ đã thiếu hơn năm chục triệu, con cần hơn mười triệu. Vị chi là sáu, bảy chục triệu. Mà bán hết cả đất theo thời giá hiện nay cũng chừng hơn trăm triệu. Rồi tới thằng Thời cũng sắp tốt nghiệp, còn hai đứa nhỏ nữa. Nếu bán phân nửa thì không ai mua, còn phân nửa cũng không làm được gì. Làm ruộng lúa mà chỉ có hai công đất chỉ tổ lỗ công. Thà bán tất, vốn dư bày chuyện khác làm ăn. Mà bán cho ai? Bán cho lão Thông chứ ai! Lão Thông à! Sao lại lão Thông? Chứ bà liệu bán cho ai. Nước này chỉ bán cho lão Thông thôi vì mình cần tiền gấp mà lão Thông thì từ bao nhiêu năm nay lão thèm mấy thửa ruộng của mình lắm! Rủi lão biết mình kẹt lão làm eo không mua? Tui chấp đó. Lão không mua có mà hối hận.

Đúng là lão Thông mua thật. Mà mua giá cao nữa chứ. Bởi lão Thông biết tính ông Thơi. Đối với lão chỉ cần hơi làm eo là ông Thơi sẽ không bán ngay. Vì ông Thơi biết tỏng là lão rất thèm dãy ruộng của ông Thơi. Một là liền ranh lại ngăn cách vườn cây của lão với bên ngoài. Với lại ai mua cũng làm lúa thôi. Mà làm lúa thì nước cứ rò rỉ xuống vườn cây của lão. Vậy nên, dù biết ông Thơi đang cần tiền, lão cũng phải lật đật mua ngay, sợ ông Thơi đổi ý, đặc biệt là tống khứ hình ảnh ông Thơi ra khỏi mắt của lão càng sớm càng tốt. Nhất cử lưỡng tiện.

Bà Thơi lúi húi với mấy cây củi sau nhà gần một buổi mà chưa thấy ông Thơi về. Bà vội ra ruộng xem sau. Vẫn với dáng vẻ đó. Ông Thơi đang ngồi bệt dưới bờ ruộng, điếu thuốc rê ngậm xệ trên môi đã tắt bao giờ, ông Thơi đang nhìn xuống đám lúa mà lòng nghĩ ngợi đâu đâu, không hiểu nữa. Còn chừng hơn nửa tháng nữa ông thu hoạch vụ lúa cuối cùng trong đời. Đã phải giao ruộng ruộng rồi. Ong đau xót và chua chát tận đáy lòng. Thật ra, lão Thông cũng cảm thông với cảnh tình người như ông mà phải bán ruộng. Nên dù ông kêu bán ruộng lúc mới sạ, lão vẫn để cho ông làm hết vụ này rồi mới giao. Lão vẫn còn cao thượng ở chỗ trả đủ tiền, không giam lại như người khác. Lão biết, ông Thơi nói như đinh đóng cột, không lật lọng bao giờ. Vả lại giấy tờ sang nhượng đã làm xong. Còn gì phải lo nữa. Chỉ chờ ngày nhận ruộng thôi. Lão Thông hình dung cảnh vườn cây của ông sẽ được nới rộng ra, cây chôm chôm sẽ mọc lên xanh tốt và nhất là hình ảnh khó chịu của ông Thơi không còn lảng vảng trước mắt lão nữa. Lão mản nguyện nở nụ cười dễ dãi dành cho ông Thơi: Tui để cho ông làm vụ này đó, chừng thu hoạch lúa xong giao cũng được. Thật ra ông Thơi có chút cảm động, nhưng vẫn lặng im cam chịu.

–        Thôi về ăn cơm ông ơi! Lúa đã chín vàng rồi còn lo gì nữa.

–        Ơ, ngồi không buồn quá. Ra đây nhìn lúa cho khuây khoả.

–        Buồn gì mà buồn, coi như đã trút xong gánh nặng rồi còn gì! À mà con Thới điện về đã tìm được việc làm rồi.

–        Việc gì vậy bà?

–        Tui chẳng biết là việc gì. Nó chỉ nói “hỏng đúng chiên môn, chiên khoai” gì đến cái bằng tốt nghiệp của nó.

Ông Thơi thở hắt ra:

–        Vậy là yên một bề.