LANG THANG TRÊN ĐỈNH HẢI VÂN – PHAN ANH – THU HIỀN

0
52

                                                 Hai tác giả trên Đèo Hải Vân

          Đã có một thời nhắc đến Hải Vân (còn gọi là Ải Vân) là người ta phải khiếp sợ hãi hùng. Đến nỗi, sự khiếp sợ ấy đã ám ảnh mọi người và đi cả vào trong ca dao mà mỗi khi có việc buộc phải đi qua thì mọi người vẫn thường nhắc nhủ với nhau: “Đi bộ thì khiếp Hải Vân/ Đi thuỷ thì sợ sóng thần Hang Dơi”. Khiếp sợ sóng thần Hang Dơi thì đã rõ, bởi đây là một mom núi Cực Đông của dải Hải Vân nhô ra mặt biển như một ghềnh đá. Do không được che chắn bởi Hòn Chảo (đảo Ngọc) nên khi biển động những con sóng ở đây dâng cao và dữ dội đập vào vách đá tựa như sóng thần, ghe thuyền nào chẳng may gặp phải nhưng con sóng này thì chẳng khác nào đi vào cửa tử. Hơn thế khu vực biển này còn có cả gió lò. Nguyên nhân của hiện tượng này là do Hang Dơi nằm ở vị trí giao nhau của các luồng gió cộng với sườn núi dốc đứng, ghành đá vòng cung ở Tây Bắc, cửa Khẻm ở phía Nam đã cộng hưởng và khuếch tán những cơn gió thành nhiều hướng khác nhau bởi thế tàu thuyền qua đây chẳng may gặp phải gió này thì rất khó đi, gió thổi xô bạt mũi thuyền nên khó định được hướng lái. Nếu gặp phải buổi gió bấc thổi mạnh hay gió nồm thì tàu thuyền qua lại càng nguy hiểm.

Vậy còn Hải Vân “Thiện hạ đệ nhất hùng quan” kia thì có gì mà khiếp đảm đến thế? Trở lại với một thời xa ngái, hẳn là nhiều người vẫn còn được nghe truyền kể về những nỗi vất vả, lo sợ bởi con đường núi vừa xa vừa khó đi cùng thú dữ, rừng rậm của những ai phải quá bộ qua đèo. Thời ấy, đường vượt núi phải đi qua ba đèo gọi là Chính Đạo, Thượng Đạo và Trung Đạo. Đến khi Minh Mạng cầm quyền thì cho xây thêm những bậc đá cho dễ đi và đặt làm ba cửa ải để canh phòng trên đèo. Phía Tây núi Hải Vân là ải chính có cửa quan, phía trước và phía sau cửa quan xây cổng tò vò. Phía trên cổng trước, trông về phía kinh thành Huế có cho đề ba chữ “Hải Vân Quan”. Phía cổng sau, nhìn về Đà Nẵng, nhà vua cho khắc lại sáu chữ “Thiên Hạ Đệ Nhất Hùng Quan” (theo sử sách còn lưu thì đây là sáu chữ do vua Lê Thánh Tông đề tặng khi dừng chân ngắm cảnh ở đây). Cùng theo đó, ở trên núi nhà vua cũng cho dựng đền thờ sơn thần cùng những kho, trạm đồn binh và đặt súng thần công để canh phòng nơi hiểm yếu. Bây giờ đồn lũy di tích ải xưa cũng đã bị mai một nhưng Hải Vân Quan vẫn còn khá nguyên vẹn nằm lại trên đèo và cũng đã được nhà nước xếp hạng, công nhận là di tích lịch sử. Đồng thời nó cũng là mốc giới phân chia địa phận Đà Nẵng và Thừa Thiên – Huế.

Con đường Bắc Nam, bây giờ trên hành trình thiên lý qua đèo đã có đường hầm xuyên núi dài khoảng hơn 6 km ở dưới chân đèo nên chẳng còn là gian nguy với người đi như khi xưa vượt đèo. Còn đi trên đèo, không biết thời xưa đường đi và từng bậc đá trên núi ra sao nhưng con đường trên đèo hiện nay cũng giúp cho người đi không phải quá khó khăn. Đường nhựa phẳng lì, đủ rộng cho hai chiều xe qua lại tránh nhau. Tuy vậy những cung đường quanh co với những khúc cua chữ chi liên tiếp và những chỗ đường như bẻ gập lại, góc cua gần như 180 độ, vừa quay vừa đổ dốc khiến cho không ít người cũng phải sởn gai ốc. Tuy vậy, nếu có dịp đi qua nơi này thì ta cũng chẳng nên bỏ phí cơ hội lên đến đỉnh đèo mà ngắm núi non, biển cả cùng trời mây quanh năm bao phủ theo dặm dài núi biếc với những áng mây hết xanh lại trắng lơ lửng giữa tầng không quấn quện vào cùng cây, đá.

          Xưa nay, Hải Vân vẫn được xem là quan ải hùng tráng nhất của khúc ruột miền Trung. Núi ấy là đỉnh cuối cùng của mạch Trường Sơn đâm ra biển Đông. Đỉnh đèo cao tới gần 500 m so với mực nước biển còn thân đèo dài trên 20 km uốn lượn như một dải lụa mềm mại nối từ núi này sang núi khác quanh co lên xuống, chỗ thì cao vút chỗ thì thăm thẳm. Dặm dài cái cung đường ấy lúc nào cũng vi vu trong tiếng gió ngàn. Mỗi khi chiều buông, không gian hoang sơ của lau lách núi rừng trên đèo bị bao phủ bởi những áng mây bồng bềnh trắng xóa cùng với đó là những thanh âm đứt đoạn, thấp thoáng của tiếng chim lạc bầy vang vọng trên những triền núi. Phía xa, làng Chài và biển Lăng Cô hiện lên đỏ rực trong ánh tà dương đang uể oải, chậm chậm lê bước đi vào biển xanh. Khi ấy, bất chợt ta lại nhớ tới câu ca: “Chiều chiều mây phủ Hải Vân/ Chim kêu ghềnh đá, tủi thân thêm buồn". Cái bức tranh chiều hôm trên Ải Vân như thế luôn chất chứa và khơi gợi những tâm tình. Và những áng mây lững thững bên các sườn núi kia cũng hết sức lãng mạn. Nó cứ bồng bềnh đi qua năm tháng và thay sắc theo thời gian để đêm ngày giăng mắc trên khắp những đỉnh núi khi gần khi xa, lúc mờ lúc tỏ.

Lang thang trên đỉnh Ải Vân, khi đã đi qua một chặng đường đầy những khúc gấp quanh co, đứng trên đỉnh đèo khi ấy ta sẽ được mở rộng tầm nhìn để thu vào trong mắt muôn trùng nước non với những cảnh vật tráng lệ và hùng vĩ. Ngước nhìn về phía Tây núi non trập trùng, nhấp nhô mướt mát một màu xanh thẳm lúc nào cũng bảng lảng mây trôi. Nhìn sang phương Đông biển bao la sóng, biếc xanh một màu chân trời thăm thẳm. Ngó xuống chân đèo mạn Bắc vịnh Lăng Cô như một bài thơ đẹp đến nao lòng với những rặng phi lao cao vút đêm ngày vi vu trong gió, trải dài bên những bãi cát trắng muốt, nõn nà, phẳng lì làm thành cái đường viền phân cách với mặt nước biển xanh ngăn ngắt, trong vắt, đêm ngày sóng vỗ dịu nhẹ, miên man đầy quyến rũ. Trông về bãi Nam, xa xa, thành phố Đà Nẵng như nhỏ lại và được bao quanh là biển cả mênh mông trong một màu xanh của trời và biển. Cứ thế đừng nhìn và lại chợt nhớ, có người đã ví đèo Hải Vân như một người gánh hoa, hai đầu đòn gánh là hai bãi biển đẹp đẽ, khêu gợi và quyến rũ nhất đất Việt. Cách nói hình tượng ấy nghe ra cũng hợp lý, chẳng có gì là quá lời đâu bởi vịnh Lăng Cô và biển Đà Nẵng đều đã được các tạp chí và tổ chức uy tín trên thế giới bình chọn và công nhận là bãi biển và vịnh đẹp của thế giới. Ngó gần xuống phía chân đèo, men theo chân núi bên bãi biển cong cong dập dờn sóng nước, thấp thoáng trong ngày, ta sẽ nhìn thấy những đoàn tàu xuôi ngược Bắc, Nam uốn lượn, ẩn hiện trong màu xanh của cây rừng, đá núi; thi thoảng lại nghe thấy ngân lên những tiếng tu tu xé toang không gian yên tĩnh, réo rắt vang xa báo hiệu cho những người qua biết tàu đang đến khiến người lữ khách không khỏi chạnh lòng nhớ đến quê nhà khi đang cất bước tha phương trong buổi chiều hôm.

          So với các cung đèo ở vùng núi cao phía Bắc, đèo Hải Vân cũng “mây phủ núi cao trời sà xuống thấp” nhưng hiền hơn rất nhiều, cả về chiều dài lẫn độ cao cùng sự hiểm trở. Nó không có cái vẻ hùng vĩ của “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, “hun hút cồn mây súng ngửi trời”. Nhưng đổi lại, ở cái độ cao của đá núi khoảng chừng 500 m phất phơ lau trắng xen lẫn ngàn thông sần sùi hoang sơ, man dại; lại cận kề bên bờ biển cát trắng phẳng lì trải dài hút mắt đêm ngày lao xao sóng vỗ, đèo Hải Vân dư sức mê mẩn, hút hồn, quyến rũ người xem; khiến khách bộ hành phải thăng hoa, dâng trào cảm xúc đến độ phiêu bồng như thể mơ tiên mà Khau Phạ, Ô Qui Hồ, Pha Đin hay Mã Pí Lèng không thể nào có được.

Và, hơn thế nữa, khác hẳn với hầu hết những con đèo khác trên đất Việt, có phần giống với đèo Ngang, đèo Hải Vân là một con đèo có cái vị thế chiến lược rất đắc địa. Có lẽ vì thế nên số phận của nó đã sớm gắn liền với những dấu chân lịch sử của người Việt trên hành trình xuôi về phương Nam. Những bước chân đầu tiên ấy còn vang vọng đến tận ngày nay mà buổi đầu của nó có thể tính từ ngày gót son của công chúa Huyền Trân in dấu bước qua (năm 1306) để đem về cho đất Việt hai châu Ô, Rí. Kể từ buổi ấy, lịch sử con đèo in bóng người Việt đến nay đã có trên 700 năm. Còn nhớ, tháng 11 năm 1470, đức vua Lê Thánh Tông đích thân Nam chinh trị Chiêm, đã từng nghỉ đêm nơi đây rồi cảm hứng mà viết “Hải Vân hải môn lữ thứ” (Nghỉ lại ở cửa biển Hải Vân): “Hỗn nhất thư xa cộng bức quyên/ Hải Vân hoành giới Việt Nam thiên/ Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt/ Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền/ Di lạc phụng thâm kỳ khoản tái/ Khổn thần ái quốc xảo trù biên/ Thử thân na đắc sinh hoàn hạnh / Cảm vọng Ban Siêu đáo Tửu Tuyền” (bản dịch nghĩa của Ngô Linh Ngọc: Gộp một mối thư xa về một bức dư đồ/ Hải Vân vạch ngang ranh giới vượt xuống trời Nam/ Canh ba đêm vắng, mảnh trăng Đồng Long vằng vặc/ Trống canh năm gió mát, con thuyền Lộ Hạc dập dềnh/ Người Di vâng mệnh hẹn kỳ hạn nộp đất biên tái/ Vị khổn thần yêu nước khéo trù liệu việc biên cương/ Tấm thân này đâu phải lấy việc sống sót là may/ Nếu vậy đâu dám tới Tửu Tuyền nhìn mặt Ban Siêu nữa). Lời thơ ấy chẳng những cho thấy ý thức của đấng quân vương với bức cơ đồ của dân tộc mà còn cho biết Hải Vân non nước hữu tình; đồng thời cũng khẳng định, đánh dấu nơi đây là một vùng biên ải của trời Nam. Và sáu chữ “Thiện hạ đệ nhất hùng quan” còn lại trên đèo kia cũng chính là những chữ của vị vua hay chữ này để lại cho con đèo mà danh ấy còn vang vọng đến tận ngày nay. Thế rồi, trải qua bao thăng trầm lịch sử, vùng phên dậu giữa hai quốc gia Đại Việt – Chiêm Thành ấy luôn được các triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng là nơi hiểm yếu.

Chẳng thế, đương thời chúa Nguyễn Phúc Chu đã rất tinh tế, khéo léo khi nói về vị thế chiến lược của Hải Vân qua bài vịnh “Ải lĩnh xuân vân” (Mây xuân đỉnh ải): “Việt Nam hiểm ải thử sơn diên/ Hình thế hồn như Thục đạo thiên/ Đản kiến vân hoành tam tuấn lĩnh/ Bất tri nhân tại kỉ trùng thiên” (bản dịch nghĩa của Nguyễn Tạo: Chốt núi này là hiểm trở nhất Việt Nam/ Hình thể giống như đường đi ở nước Thục/ Chỉ thấy mây giăng trên ba núi lớn/ Không hay mình ở mấy từng trời). Bài vịnh ấy không chỉ nói về nỗi gian lao, vất vả của đường đi khó mà còn khẳng định một lần nữa cái địa thế hiểm yếu của vùng biên ải trời Nam. Rồi đến sau này, khi Phú Xuân trở thành kinh đô của đất Việt thì vai trò, vị thế của đèo Hải Vân càng được nâng lên và quan tâm trú trọng. Khi ấy, nó đã trở thành cửa ngõ phía Nam của kinh thành Huế. Không phải ai khác, chính vua Minh Mạng đã xuống chỉ xây Hải Vân Quan với “cửa trước bề cao và bề dài đều 15 thước, bề ngang 17 thước 1 tấc, cửa sau bề cao 15 thước, bề dài 11 thước, bề ngang 18 thước 1 tấc, cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, bề ngang 8 thước 1 tấc; hai bên tả hữu cửa quan xếp đá làm tường, trước sau liền nhau”. Và song hành cùng với công trình ấy, triều đình nhà Nguyễn đã cắt cử người thay nhau đến đây trấn giữ. Và rồi đến năm 1835, khi ban chỉ dụ làm Cửu Đỉnh “khắc các hình tượng sông, núi và mọi vật”, vua Minh Mạng đã không quên sai người đưa hình ảnh của Hải Vân Quan cùng mây núi Hải Vân vào trong Dụ đỉnh.

Đèo Hải Vân, một trong những con đèo trứ danh của miền Trung đất Việt. Nó không chỉ nổi tiếng trong lịch sử mà còn vang vọng trong cả thi ca và âm nhạc. Mỗi khi nhắc đến con đèo Hải Vân, ta lại nhớ, vào đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, bài hát “Tàu anh qua núi” của cố nhạc sĩ Phan Lạc Hoa đã làm say mê biết bao người nghe: “Đi dọc Việt Nam theo bánh con tàu quay/ Qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi/ Nhớ khi xưa qua đèo qua suối/ Mà lòng ta mơ tàu qua núi cao …”. Và rồi theo năm tháng của thời gian, bài hát không chỉ “theo bánh con tàu quay” mà còn sống mãi cùng với tên tuổi của con đèo. Bây giờ đèo Hải Vân đã trở thành điểm đến thích thú của rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, nhất là những người thích phượt hay đam mê nhiếp ảnh. Nếu có đến và đứng trên đỉnh đèo, ngắm nhìn Hải Vân Quan cùng dải biển miền Trung phía dưới chân núi thì ta mới hiểu vì sao mà người ta yêu thích nó đến vậy và ta cũng sẽ thấu hiểu hơn câu hát “Qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi”.

Phan Anh – Thu Hiền

(Phòng GD&ĐT Hoài Đức, Hà Nội)

Có liên quan