KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG TÁM – KỲ 56 – Xuân Sắc

0
51

–        Chuyện của bác và những người trong tranh quả thật đáng buồn. Việc đời đến thế thì còn biết ăn ở, nói năng làm sao? Còn bức tranh thứ hai có gì lạ không hở bác?

Không trả lời ngay, ông Chín Thép ngồi rót nước hớp từng ngụm nhỏ, cặp mắt đăm chiêu nhìn sững ấm nước một lúc lâu. Trong khi ông suy tư, Thiên Hương theo dõi thấy sắc diện ông nhiều lúc đổi thay. Ánh mắt có lúc sững sốt như đứng tròng, có hồi như đau buồn gần rơi nước mắt, lại có lần long lên như tràn đầy phẩn nộ. Tâm trạng ông đang trải qua cơn chấn động nặng nề.

Độ tàn điếu thuốc, ông đứng lên đến bàn thờ Phật lấy một nén hương đốt cắm vào cái lư nhỏ, đem đặt trước bức tranh thứ hai. Ông đưa tay sửa lại bức tranh cho phẳng phiu suông sẽ. Tranh vẽ tự bao giờ, nét họa vẫn sắc xảo tuy màu giấy ố vàng vì được giữ kỹ nhiều năm trong cái ống nứa. Nội dung vẽ cảnh người đàn bà đang bế con mặt đầy sầu muộn. Xa xa lờ mờ hình người đàn ông đang cặm cụi làm lao dịch dưới sự trông coi của đám lính lệ cầm roi ra oai, gần đấy một quan nhân khăn be áo gấm có nét hao hao giống huyện quan Hà Đảnh. Chín Thép đứng lên đằng hắng lấy giọng nói tiếp:

–        Từ đó, mỗi người một cuộc sống riêng tư, nhưng hàng năm đều có những cuộc gặp gỡ tại nhà Đặng Nhượng ở Bàu Đồn để làm lễ giỗ thầy và sum họp với nhau. Lâu lâu cũng có cử người về quê hương thăm viếng bà con. Tiếp đó, Phủ đường Gia Định đưa về Quan Hóa một viên quan Tri huyện tên là Hà Đảnh.

Nghe nói đến tên Hà Đảnh, Thiên Hương giật mình:

–        Hà Đảnh là cha của con.

–        Trong năm đầu, quan huyện lo củng cố nội bộ loại trừ hết người trong huyện đường trước kia, lập nên vây cánh mới.

–        Hà Đảnh là cha của con đấy.

Nàng lập lại như tự trấn an mình. Chín Thép không trả lời kể tiếp:

–        Khi vị trí vững vàng, tay chân ổn định, quan huyện bắt đầu trổ ngón nghề của mình. Đến đất Quan Hóa này từ hai bàn tay trắng một vài năm sau thì không ai giàu bằng ông ta. Cho đến bây giờ thì hết nói, cháu cũng biết đó.

–        Quả đúng như thế. Cháu biết của cải đó không phải do công sức của ông mà là mồ hôi và máu của bà con dân chúng. Nhiều gia đình trong huyện, con có dịp đi ngang ghé thăm, được biết bà con vất vả, nghèo khổ quá, làm ra món gì dù ít dù nhiều đều bị sưu thuế bao trùm. Vô lý nhất là từ đây về Quan Hóa ai đem món hàng gì đi ngang nơi nào thì nơi đó tịch thu hoặc phạt vạ, con nghe nói cha con đặt lính làng dọc theo các trục lộ để rình mò, từ đó một món hàng chịu thuế bốn năm lần nên vật giá cứ mãi gia tăng. Điều con không hiểu được là ông đã già rồi, gia đình chỉ một mình con là con, cha con có ăn uống là bao, phần bổng lộc cũng đã dư dã, thế mà ổng cứ thu vét mãi, bằng mọi cách chất chứa cho nhiều. Bên ngoài bà con đói khát, trong huyện thì dư thừa. Có khi vì không gìn giữ tốt mà phải bỏ hoặc đốt đi. Còn phần con dù là con một nhưng không thấy ổng trông nom, không quan tâm dạy dỗ, tự con sống, học hành thế nào mặc kệ. Có những lúc con làm quá bụng ổng, ổng quở rầy, cha con cãi nhau ổng mới làm thinh. Hình như ổng chỉ làm thinh khi con bướng bỉnh cãi lý lại mà thôi. Còn nếu con cúi đầu vâng phục thì ổng càng được nước làm tới. Bởi vậy, cha con không hợp nhau, ít gần gũi nhau lắm.

Thiên Hương dừng lại một lát, Chín Thép vẫn yên lặng. Nàng thở dài nói tiếp:

–        Người đời rất lạ, đã làm qua bổng lộc hơn người rồi mà không hết tính tham lam. Như cha của cháu nắm trọng quyền trong tay, vơ vét của cải dư thừa có trên hai mươi năm nay, kho lẫm của riêng quá đầy đủ. Thế mà vẫn còn tìm cách tìm nơi thu vén.

Chín Thép kết luận:

–        Độc đoán, tham lam, ích kỷ, ganh tị là tính nết chung của hầu hết những ông quan đương thời cháu ạ. Dù Hà Đảnh hay quan nào cũng vậy thôi. Để bác kể tiếp chuyện mấy bức tranh cho cháu nghe.

Nói xong, ông Chín Thép lại cau mày, nín lặng. Tâm trí của ông quay về cõi xa xưa, nơi đã cướp mất của ông thời trai trẻ. Những hoài bão bất thành vì cuộc đời nghiệt ngã, vì các tai họa quan làng xô đẩy liên tiếp vào ông và bạn bè của ông. Trước mắt ông hiện lên những hình ảnh xa xưa đã in sâu vào tiềm thức. Như giòng thác quá khứ kéo về. Ông hớp một ngụm nước, nuốt vội để nén niềm xúc động và từ từ cất tiếng:

–        Tại phố chợ Quan Hóa, vợ chồng Lý Thiên làm ăn lần hồi khấm khá. Ngọc Phụng như hợp đất hợp người, ngày càng nở nang, nhan sắc phát tiết, nàng trở thành hoa khôi lộng lẫy giữa vùng Quan Hóa, làm động lòng hiếu sắc của quan huyện mà vợ chồng Lý Thiên không hay. Một hôm, Hà Đảnh cho mời Lý Thiên vài nha huyện, y than phiền rằng trong nha làm việc quan thiếu người tin cẩn, thông chữ nghĩa, y vời Lý Thiên vào nha để giúp việc và trông giữ ấn tín của huyện. Huyện sẽ hoàn toàn chu tất cuộc sống của gia đình. Huyện quan còn đề nghị Lý Thiên đưa cả vợ vào nha, có sẵn nhà cửa, ở ăn và làm việc cho tiện lợi. Thấy mình cô thế, anh em bè bạn là dân tha hương, vất vả, tưởng gặp được huyện quan là người tốt bụng biết trọng tài năng nên Lý Thiên bằng lòng vào làm việc và ở luôn trong nha.

Trước khi giao ấn tín cho Lý Thiên trông giữ, Hà Đảnh lén đóng ấn vào một số khống chỉ chưa thành văn tự để dùng vào âm mưu đen tối về sau. Lý Thiên là người có thực tài và nhiều tâm huyết nên cũng liên tiếp đệ trình nhiều đề án về công việc mở mang cho huyện. Trong khi đó Hà Đảnh lại cần món khác cho y thiết gì đến sự mở mang nên y chỉ hứa hẹn cầm chừng. Lý Thiên luôn trong tâm trạng đợi chờ nôn nóng. Thình lình một hôm có tên lính lệ bị bắt, người ta khám trong người hắn tịch thu được mấy tờ ấn chỉ của quan đã đóng sẵn triện son đỏ chói. Hắn khai do Lý Thiên thông mưu cùng hắn dùng ấn chỉ ấy vào các việc cần thiết qua mặt nhà quan. Hà Đảnh đùng đùng nổi giận hạ ngục Lý Thiên chờ ngày xử tử về tội phản nghịch. Dù bị tội oan, Lý Thiên vẫn không thể kêu ca được vì ấn tín do anh cất giữ, trách nhiệm rõ ràng.

Chồng bị bắt và có tin bị xử tử nay mai, Ngọc Phụng hốt hoảng, lòng dạ rối rắm. Nàng nghĩ quan huyện là người nhân đức nên chỉ biết đến cầu xin lạy lục hắn, quan huyện lòng dạ như sắt đá, ông khư khư lên án xử tử Lý Thiên để tác động tinh thần cho nàng không còn tự chủ. Đến một hôm, trong lúc Ngọc Phụng van lạy cầu xin, thừa lúc vắng người quan đưa ra điều kiện là y sẵn lòng đổi mạng sống của Lý Thiên bằng cách Ngọc Phụng phải nhận lời làm vợ y. Lời quan như sét đánh, Ngọc Phụng choáng váng chạy ra khỏi công đường, nằm khóc một mình trong phòng suốt ngày. Trong khi mọi người chung quanh đều e dè không dám đến với nàng vì sợ liên lụy tới thân. Anh em bầu bạn đồng môn thì ly tán ở xa không nhắn gửi được.

Trằn trọc một mình, nàng nghĩ sinh mạng của chồng là trọng hơn hết, dù phải chết thay cho chồng nàng cũng mạnh dạn hy sinh. Sự hy sinh ấy lớn lao đến đâu cũng được, miễn đừng phải là sự hy sinh phẩm tiết của một con người. Cứu được chồng mà bị dập vùi danh tiết thì cuộc hy sinh cũng bằng thừa, chi bằng nàng thà chết mà không làm hại đến danh tiết sáng trong. Nhưng nàng nghĩ lại nếu ích kỷ chỉ biết có thân mình thì tình nghĩa vợ chồng làm sao cho trọn vẹn. Ta có chết đi thì cái chết ấy cũng đổi được mạng sống cho chàng. Còn điều quan trọng hơn nữa là cái bào thai, mối tình thiêng liêng đúc kết ấy làm sao giữ gìn và lưu hậu. Bây giờ tuy nó chỉ mới là hòn máu, nhưng có tội gì? Sao lại phải chết theo ta?

Ngọc Phụng càng suy tính càng thấy đi sâu vào ngõ cụt bế tắt. Không biết tính sao cho tròn. Đợi đến năm ngày, Hà Đảnh theo dõi thấy sức khỏe Ngọc Phụng suy giảm. Chứng tỏ nàng bị tác động rất mạnh hắn đánh thêm một đòn cân não cho nàng sụp đổ tinh thần. Hắn ra lệnh cho lính lệ lo dọn bãi sẵn sàng để hôm sau đưa Lý Thiên ra chém đầu. Bấy giờ, Ngọc Phụng đã tuyệt lộ vô phương. Muốn cứu được mạng cho chồng, muốn bảo vệ cái bào thai mới tượng hình trong bụng, vì chồng, vì con, tấm thân không tiếc còn kể gì danh giá. Nàng nuốt lệ, nén căm hờn, gật đầu ưng thuận theo cuồng vọng của Hà Đảnh. Hà Đảnh chiếm được Ngọc Phụng, không giết Lý Thiên, nhưng y bắt chàng phải chịu khổ sai cho đến chết. Nắm Lý Thiên để giữ Ngọc Phụng, nắm Ngọc Phụng để trói Lý Thiên, y đã thành công. Vợ chồng Lý Thiên vì thất cơ lỡ vận phải đau thương nhớ nhau trọn kiếp.