KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG TÁM – KỲ 55 – Xuân Sắc

0
51

–        Lý Thiên có lẽ tên chủ nhân của chiếc ná?

–        Đúng thế. Nhưng còn nữa … mà thôi, cũng không có gì nhiều. Cháu vượt đường dài thâu đêm mệt  nhọc, hãy đi tắm nghỉ ngơi cho khỏe lại. Sáng mai bác sẽ nói chuyện và trao những kỷ vật dành cho cháu đã nằm trong tay bác từ lâu. Bây giờ, chị em cứ ở nhà lo cơm nước ăn uống bình thường. Bác sang nhà người bạn già có chút việc. Khoảng cuối giờ mùi bác sẽ về đến. Bảo cháu trai lấy lúa trong bồ ra cho ngựa ăn, một giờ sau hãy cho uống nước.

Nói xong ông vừa lấy khăn quấn lên đầu, vừa đi vòng ra mé sau vác rựa ra sân đi thẳng.

Thiên Hương, Trà Phí và chú tiểu ở am lo cơm nước. Nàng tắm rửa, dùng cơm rồi lên giường nằm đánh một giấc dài không mộng mị.

Thiên Hương thức giấc trời đã xế chiều. Ánh nắng không còn gay gắt. Những tia sáng nhẹ nhàng quét lên vạn vật lóng lánh như tẩm mật ong. Nàng bước đứng dưới gốc dừa đưa mắt nhìn cảnh vật, nàng thấy tâm hồn thơ thới hơn sau giấc ngủ say.

Ông già Chín Thép, Trà Phí và chú tiểu ngồi chụm vào nhau đang đốt lửa thui cạo làm thịt con kỳ đà. Thiên Hương bước vào định tiếp tay, Chín Thép ngăn lại:

–        Cháu hãy nghỉ tay, không còn chỗ cho cháu sờ vào đâu. Con vật có chút xíu mà có ba người rồi.

Thiên Hương hỏi lại:

–        Phải con kỳ đà không hở bác?

–        Phải.

–        Vậy là bị kỳ đà cản mũi rồi.

–        Cháu muốn nói cản mũi việc gì?

–        Không, cháu buột miệng thôi, nghe nói rằng khi định làm việc gì mà bị ngăn cản thì người ta nói là kỳ đà cản mũi phải không bác? Còn ý nghĩa của câu nói đó cháu không hiểu rành bác giải thích cho cháu biết đi.

–        Những người thợ săn đi rừng không thích gặp kỳ đà. Khi một đoàn thợ săn đi cùng với bầy chó săn vào rừng, tất nhiên họ muốn bắt được các loài thú lớn như con nai, con hưu để đủ chia chác cho nhau mỗi người năm ba cân thịt. Trong rừng xứ mình có loại kỳ đà rất thường gặp, lại mang nhiều hơi hám, chó bắt hơi thịt thì đánh tiếng, kỳ đà vội chui vào hang trong gò mối hoặc leo chui vào bọng cây. Chó gặp thịt thì vây theo, sủa ỏm lên, mễn nai nghe động rừng đều lo chạy trốn. Cuối cùng bắt được con kỳ đà rồi thì chỉ có nước kéo nhau về vì thú rừng đã trốn hết sạch. Đó là cái hại của việc gặp kỳ đà. Đã gặp kỳ đà rồi thì không làm sao bắt được những thú rừng lớn xác khác nữa.

–        Chắc có lẽ nghĩa đen của câu nói là như vậy, lâu dần người ta không cần tìm hiểu, cứ nói mãi thành câu tục ngữ bao giờ không hay.

–        Theo sự hiểu biết của bác thì ý nghĩa câu nói như vậy đó. Cháu tin hay không cũng chẳng sao.

–        Cháu tin vào sự giải thích của bác. Theo cháu, kỳ đà, cheo, sóc, mễn, nai con nào cũng đều là thú rừng đối với thợ săn thì có lẽ bắt được thịt con to vẫn có lợi hơn. Rừng cho mình nhiều thứ quá không hở bác?

–        Quả vậy, thiên nhiên ban cho mình sự sống. Trong đó rừng là người mẹ chở che, đùm bọc dưỡng nuôi mình. Cháu nhìn kỹ quanh ta từ cộng tranh vách lá cây gỗ làm nhà ẩn trú nắng mưa, miếng gỗ mục cũng làm được bột nhang, chiếc đũa ăn cơm, bộ ván, cái giường nằm nghỉ, nắm lá làm rau, cành hoa mát mắt, trái chua quả ngọt, củ khoai tay nấm đến chim chóc, thú vật lớn bé để giúp vào toàn bộ cuộc sống con người, hầu hết là sự đóng góp của rừng. Chưa kể rừng đã làm điều hòa khí hậu, trong sạch không khí. Có rừng đỡ phải lo mưa nắng, giông bão bất thường.

Nhưng bàn tay tham bạo và khát vọng của con người thì vô tận. Lóp ăn, lớp cất giữ, lớp phung phí thành ra ta tự phá hại tương lai của mình.

Một cái cây, một cây muốn lớn thành rừng, có khi mất vài trăm năm. Một cây rừng sống ít nhất cũng mấy mươi năm mới có gỗ dùng được. Ông thợ rừng cần dùng thỉ đa73n ngang, lấy một đoạn nào đó đủ cho sự cần thiết của mình, còn tất cả bỏ đi cho mục nát hoặc muốn ăn chừng một ít trái cây rừng cũng ngã đổ nguyên cây. Mùa sau, khi cần ăn nữa lại đi đốn ngã cây khác. Nó sống trăm năm, mình phá đi trong chốc lát, diệt mầm sinh sản. Đó là bác chưa kể vì miếng ăn lại đốn sạch, đốt thành tro một vùng rừng để tỉa lúa lấy cái ăn. Năm sau lại đi phá rừng nơi khác làm rẫy nữa. Rừng cứ thế mà tiêu hao dần, thú rừng chim chóc cũng dần bị tiêu diệt hết. Ngày nay biết bao loài thú bị tuyệt chủng đáng tiếc vô cùng.

Bà mẹ thiên nhiên ban cho ta sự sống. Sự sống ấy tự nó đã cân bằng rồi, vật này có thể chế ngự vật kia. Chẳng hạn như con chim để diệt trừ sâu bọ, côn trùng phá hoại. Nếu không còn chim chóc, côn trùng hoành hành, mùa màng bị hại, sự sống con người sẽ ra sao? Thế mà cả con cá ròng ròng, giết hại đến những con vật đang mang thai, mất luôn đường tiếp nối. Như vậy có phải chính mình ăn dần, phá dần vào tương lai và sự sống của mình hay không?

Thiên Hương tặc lưỡi:

–        Thật đáng tiếc. Chính con người phá hoại sự sống của con người.

Cơm nước xong, Chín Thép cho chú tiểu cùng Trà Phí đi săn thú để làm món ăn chiều. Ông căn dặn con nào thì được bắn, con nào thì không hoặc không gặp thgịt thì đi tìm hái nấm, bắt cá suối, bẻ măng rừng cũng được. Công việc hợp với sở thích và khả năng của Trà Phí nên chú lo mài rựa thật bén đem theo. Hai con chó vện và mực được ăn no thấy người chuẩn bị nó cũng hiểu biết nên mừng rỡ, chờn vờn nhảy nhót một cách thích thú.

Chờ hai cháu trai đi rồi. Chín Thép vào buồng ngủ lấy ra một ống nứa có nắp đậy và cây ná gãy cánh đem để trên bàn. Mở nắp ống nứa, ông lôi ra hai cuộn giấy đem treo trên vách, vuốt phẳng phiu. Thiên Hương được ông gọi vào, nhìn lên bức tranh, nàng thấy vẽ bốn người trai trẻ có nét quen quen gợi nhớ, nhưng nàng không đoán ra được là ai. Nàng chờ đợi. Chín Thép bắt đầu vào chuyện:

–        ba mươi năm trước, miền ngoài gặp năm hạn hán, dân tình đói khổ, phải ăn cả củ chuối và cây rừng. Tại một thung lũng giáp ranh giữa vùng cao nguyên và miền biển Bình Định có bốn chàng trai trẻ tuổi mới đôi mươi, con của những gia đình nông dân nghèo khổ trong vùng, cùng chung một thầy học võ. Bốn người làm bạn nối khố với nhau. Người thứ nhất là con của thầy dạy học, dù ít tuổi vẫn được xem là huynh trưởng. Anh đủ tư cách, đức độ nên ai cũng phục tùng. Người thứ hai rất thông minh và khỏe mạnh, anh có mã người lịch sự nên chiếm được trái tim của con gái thầy mình. Được thầy và anh ruột cô gái thương mến nên đôi bên thành vợ thành chồng. Tất cả đầu sống chung, làm chung trên một thửa ruộng để cùng nhau học tập.

Năm mất mùa đói khát ấy, làm không đủ ăn mà bọn quan làng thẳng tay vơ vét. Ngoài số thuế vụ gia tăng, bọn chúng còn đặt thêm những lệ riew6ng để thu góp cao hơn hai ba lần thuế. Ai đeo bám ruộng đồng đều bị công nợ, giao nộp cho quan làng đến hạt thóc cuối cùng mà vẫn bị bắt bớ giam cầm. Suốt mùa màng cực nhọc chỉ còn tay trắng vẫn chưa yên thân. Có tiền phải đóng thêm thay thóc, không tiền phải chịu đi lao dịch mà không được trừ nợ, chỉ được gác lại sang năm sau.

Nhà người thầy lâm cơn túng ngặt. Thầy bị bắt giải lên quan, kêu ca không thấu, phân trần thì như nói chuyện với gỗ đá, uất ức dồn dập, thầy tức tối mà chết tại công đường. Anh em lo mai táng thầy xong, ai cũng uất hận. Quan làng làm chết một người cũng chưa buông tha, còn tới hạch sách gây rối rấm cho gia đình. Một cuộc cãi vả với người mang lệnh qua làng gây cảnh xô xát. Người con trai vẫn còn bình tĩnh, nhưng anh con rễ không kiềm chế được chỉ đánh có một quyền không hiểu trúng vào điểm nhược nào mà tên sai nha ngã ra chết tốt.

Tai họa đến bất ngờ, bởi nhà ở lẻ loi xa vắng nên cả bọn còn kịp bỏ trốn, lặn lội trên núi rừng. Năm ngày sau xuống được thuyền xuôi thẳng vào Nam.

Họ trú tại Bến Nghé nhiều năm, làm ăn khó khăn vì chung quanh toàn đầm lầy, sông nước. Họ không quen với môi trường ấy nên trôi dạt về đất Quan Hóa này. Nhờ có người vợ đảm đang, người con rễ chọn việc làm ăn tại Quan Hóa. Ngày anh lo làm lụng, đêm thì dạy học để kiếm cơm. Vợ tảo tần mua bán hàng ngày. Còn ba người nọ thì sau khi chia tay nhau, hai người về sau cũng lập gia đình còn một ngườiu thích sống cô độc nên ẩn dật riêng một mình.

Bốn người bạn ầy tên là Đặng Nhượng, Lý Thiên, Ba Sách và ta Chín Thép. Đó là bốn người trong bức tranh thứ nhất.