KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG NĂM – KỲ 44 – Xuân Sắc

0
52

Vầng trăng êm ái trải ánh sáng dịu dàng mát rượi. Ngọn gió thoảng đưa, những tàu lá chuối bên sân lay lắt nhẹ nhàng. Với tay rót trà vào chén, Đặng Nhượng bắt đầu gợi chuyện:

 

–        Ban sáng tình cờ vào phòng riêng của cháu Lê Sĩ Triệt, thấy Triệt đang xem một bức tranh, nhìn tranh tôi xúc động đến bây giờ. Hình ảnh đau thương ấy biết quan hệ đến cháu thế nào. Nếu có thể nói thì cháu cho bác biết với, còn không tiện nói thì thôi, bác không dám tò mò.

 

–        Thưa bác, không có gì đáng phải dấu diếm. Hình ảnh đó do thầy con ghi lại để con biết được thân thế của mình đó thôi.

 

Ông Tám Trầm nói:

 

–        Tôi có nghe bà nó ở nhà nói lại rằng có lúc thấy cháu Triệt nhìn bức tranh đó mà rơi nước mắt. Còn tôi khi mới thấy cháu Triệt lần đầu, tôi đã ngờ ngợ nhớ một người mà mình không dám đoán chắc là ai. Lần hồi củng cố thêm trí nhớ về chuyện hai mươi năm trước, khiến tôi hoài nghi. Biết đâu lại chẳng có thể là hậu duệ của người xưa đấy ư?

 

Sợ nhiều người bàn tán sẽ lộ thân thế mình, Lê Sĩ Triệt cố lảng sang chuyện khác:

 

–        Sau cuộc tiệc ở nha huyện, con đâm lo cho thân phận của con, bởi không có gì để đảm bảo sự tin cậy với quan trên, e khó mà ở yên lâu ngày.

 

Như sợ xổng mất sự kiện cần nói ra, ông Tám Trầm quay lại câu chuyện:

 

–        Bác có nhiều hồ nghi, nếu cháu là thằng nhỏ ném vào bụi sa nhân thuở nọ thì cũng là  một ơn lành hy hữu. Bác chẳng những rất mừng cho cháu mà còn nhiều việc cần nói nữa kia. Vì chính bác là người đã can ngăn không để tên vệ sĩ quật chết đứa bé, chính tay bác ném nó vào bụi sa nhân. Cũng từ hôm ấy bác đã khẳng định thái độ của mình. Còn Đặng huynh đây, cháu phải tin ông là người thật tốt, dù ông đang làm việc dưới trướng quan huyện và cũng là gia sư của Thiên Hương.

 

Nghe câu chuyện giữa Lê Sĩ Triệt và ông Tám Trầm, Đặng Nhượng suy nghĩ có lẽ đây là oan gia của Hà Đảnh hiện đang bám chặt lão ta. Ông cũng mừng thầm vì ông không đơn độc trong nhiệm vụ mà ông tự đặt cho mình, chẳng bày tỏ cùng ai.

 

–        Biết cháu là đồ đệ ưu tú của sư cụ Tri Tân, bác có lòng mừng từ âu. Từ cuộc gặp gỡ trên núi khi cháu có nghĩa cử giải nạn cho Thiên Hương và Diệu lan cùng thu phục Khê Đon, Trà Phí, đến khi cháu nhập vào làm vệ sĩ cho quan huyện. Nói thật  ban đầu bác rất e ngại cho tương lai của cháu. Tiếp theo đó, Trà Phí cũng theo về, bác lại có nghi vấn riêng. Bác nghĩ rằng đại bàng không thể đậu trên chồi cây, ngọn cỏ. Cháu ở đây nếu không vì việc riêng tư, bác sẽ bàn cùng cháu nên tìm ngõ khác để tạo cơm áo mưu sinh. Việc quan nha ở Quan Hóa, trong những ngày tháng ở đây, chắc cháu đã biết nhiều rồi. Nói thật, trên hai mươi năm nay vẫn thế. Nếu là người có tâm huyết cháu cũng cần hiểu cho ra lẽ, hiện nay trái trên cây đã chín muồi rồi, đang chờ  một cơn gió nhẹ mà thôi.

 

LÊ Sĩ Triệt biết mình bị phát hiện vì không giấu kín tình cảm trong lòng. Thù nhà chưa trả được, lại lâm vào hoàn cảnh éo le ngang trái. Trong khi tại đây, ngoài Trà Phí thì tất cả mọi người đều là tay chân, thuộc hạ của Hà Đảnh, chàng hế`t sức e dè. Hôm nay, trước Đặng Nhượng và ông Tám Trầm chàng khó mở lời vì còn suy nghĩ cách đối phó, nếu mọi việc không theo ý nghĩ thì làm sao? Còn nếu gặp người cùng tâm huyết mà không đoàn kết lại thì lấy ai đồng tâm đồng chí. Không cùng lo hợp lực thì đại sự biết bao giờ mới hoàn thành.

 

Thấy Lê Sĩ Triệt bối rối, ông Tám Trầm xúc động, ông thuật lại việc cũ và nói đến tình cảnh ở huyện nha. Ông chỉ ra từng người tốt, kẻ xấu. Bản thân ông vì không thể chịu nổi những cảnh đau lòng do Hà Dảnh gây ra hàng ngày nên ông phải xa lánh nha môn, ông cáo bệnh từ nhiệm để được sống cuộc đời trong sạch, không vướng bận vào những nỗi lo âu.

 

Điều làm cho Lê Sĩ Triệt băn khoăn suy nghĩ là hiện nay trong dinh cơ Quan Hóa Đặng Nhượng không phải người bình thường, ông là tay, là mắt, là trí tuệ và cũng là tay rương hòm chìa khóa của Hà Đảnh. Hà Đảnh kính nể, tôn trọng ông vì ông đủ tài trí, dạy dỗ Thiên Hương, giúp đỡ Hà Đảnh tính toán chi ly từng con số nhyỏ. Ông mở lớp dạy võ nghệ và chữ nghĩa trong nha, hầu hết các viên chức từ anh lính lệ, người cầm sổ sách coi kho, đến anh thư lại làm việc ở công đường đều là học trò ông. Gần hai mươi năm bám sát Hà Đảnh, Đặng Nhượng đã có một thế đứng vững vàng, dù bên Hà Đảnh còn có tên quản gia thân tín là Chu Thiện. Mấy năm trước hắn trôi dạt vào Quan Hóa tìm cách tiến thân, nhận Hà Đảnh là đồng hương rồi được đỡ đầu, cất nhắc. Nhờ khéo ton hót, dua nịnh nên ngày càng được tin cẩn hơn. Con đường đi lên của hắn thường là bước ngang xác bạn bè, đồng sự của mình. Để được lòng cấp trên, hắn như con cú vọ luôn rình rập các sơ hở của anh em, soi mói từng lời nói vô tình hay việc làm bấyt ý. Hắn bưng bợ trước mặt rồi sau đó bịa đặt, dựng chuyện sau lưng. Nay một lời mai một tiếng, hắn phỉnh phờ, xúi giục, làm cho quan tin theo hắn. Với thái độ đội trên đạp dưới đó, hắn đã hại nhiều người và tăng thêm uy tín cá nhân. Trong quan nha, Chu Thiện chỉ gờm một mình Đặng Nhượng, hắn quyết tâm cố tranh cho được cái thế đứng của ông và cố chiếm cho được trái tim con gái quan huyện, dù nhiều lần bị Thiên Hương vạch mặt, hắn vẫn nuôi hy vọng trong lòng.

 

Đặng Nhượng có thể dùng uy tín và khả năng sẵn có để cùng Hà Đảnh làm giàu không khó khăn gì mấy. Ngược lại, ông chỉ sống thanh đạm, tránh né mọi sự phung phí xa hoa, khước từ bao nhiêu lễ lộc đền ân trả nghĩa của mọi người hoặc các đặc quyền đặc lợi của Hà Đảnh ban cho. Cha con ông ngoài miếng cơm, tấm áo đơn giản hàng ngày, không có của cải riêng tư gì cả. Đặng Nhượng đã nhiều lần dập tắt các mưu toan không chính đáng của Chu Thiện. Chu Thiện có bực tức bao nhiêu cũng phải lặng yên, hắn chỉ chờ cơ hội trả thù. Lê Sĩ Triệt thấy rõ nhưng chưa biết nguyên nhân nào đã khiến cho một bậc chính nhân như Đặng Nhượng lại chịu phép nép mình trong bóng râm Quan Hóa. Tuy nhiên khi liên hệ lại hoàn cảnh riêng mình, mang mối thù sâu mà phải khuất phục dằn lòng phụng sự kẻ thù. Chàng lờ mờ đoán ra chắc Đặng Nhượng cũng mang nặng một nỗi niềm nào đó tương tự như chàng.