KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG NĂM – KỲ 43 – Xuân Sắc

0
25

Từ ngày gặp gỡ Lê Sĩ TRiệt trên núi đến lúc Sĩ Triệt về tùng sự ở Quan Hoá, qua cách làm việc của chàng tại nha môn, Đặng Nhượng thấy dường như chàng còn mang nặng một tâm tư gì sâu kín. Ông muốn tìm hiểu sâu về đời tư của chàng nên đã nhiều lần tiếp xúc với chàng cũng như bí mật giao trách nhiệm chu Nguyễn Hùng, Trần Thông cùng gia đình ông Tám Trầm theo dõi, nhưng đều không lần ra manh mối. Một hôm trong lúc rãnh rỗi, Đặng Nhượng đến nhà Tám Trầm viện cớ thăm người bạn già, trong khi Lê Sĩ Triệt còn ở trong phòng riêng, ông giả cách vào chơi đường đột bất ngờ. Ông bắt gặp Lê Sĩ Triệt đang cầm trên tay một bức tranh đã cũ mắt nhìn trân trối và ứa lệ. Ông giả bộ vô tình xấn xả bứơc đến cùng xem tranh.
Bức tranh vẽ đôi vợ chồng trẻ nằm chết bên đường ven suối một hài nhi ngất lịm nằm trong bụi rậm, chiếc xe song mã đỏê trên đường và xa xa thấp thoáng hình ảnh quan quân.
Bất ngờ, luống cuống Lê Sĩ Triệt vội vã cuộn tròn bức tranh đem cất, Đặng Nhượng nghĩ có lẽ đấy là những hình ảnh ghi lại quá khứ của chàng. Ông liên hệ hai thân phận của mình mà thấy lòng nghèn nghẹn. Lê Sĩ Triệt dù bị xúc động nhưng cố giữ nét mặt bình thường:
– Thân thế của con như vậy đó bác ạ!
Nhè nhẹ gất đầu, Đặng Nhượng nói:
– Tôi đoán hiểu mường tượng như vậy. Đáng buồn nhất là lại gần giống thân phận và hoàn cảnh của nhiều người khác nữa. Cháu có thể cho bác biết rõ hơn được không?
– Có thể lắm chứ, nhưng thấy chưa cần đối với bác bây giờ và cũng chưa đến lúc cần của con. Con hứa sẽ thuật cho bác rõ vào một ngày nào đó.
Vừa lúc ấy, Lê Thanh, người con của ông Tám Trầm vào gọi:
– Cha con mới bác và anh Lê Sĩ Triệt ra uống trà.
Cùng làm việc quen thuộc nhau nhiều năm nay trong nha huyện, ông chán nản đổ tại tuổi già sức yếu xin nghỉ việc về cắm câu. Ông Tám Trầm và Đặng Nhượng nói chuyện với nhau vô cùng thoải mái. Qua mấy tuần trà, mọi người chuẩn bị vào nha, ông Tám khẩn khoản mời:
– Khoảng canh một đêm nay mời anh ra chơi, Lê Sĩ Triệt cũng về lúc đó nghe. Tôi có một món lạ sẽ làm mọi người ngạc nhiên thích thú.
*****
Những con cá lớn bằng bắp chân được nướng đất sét, chất đầy trong chiếc mâm thau để trên bàn thờ được đem xuống đặt trên bộ ván ngựa giữa nhà. Gia đình ông Tám, Lê Sĩ Triệt kể như người nhà. Đặng Nhượng là khách quý, đều ngồi vây quanh.
Ông Tám Trầm nói:
– Hôm nay là ngày cúng “việc lẽ” của dòng họ tôi. Mời Đặng huynh và tất cả chúng ta cùng ăn một bữa cá.
Nghe tiếng cúng “việc lẽ” lạ tai, Lê Sĩ Triệt hỏi:
– Thưa bác, cúng việc lề là gì, con thật chưa biết.
Đặn Nhượng thay lời:
– Xưa nay ở thôn quê ta có tục cúng vật lệ, người xưa bày lau đời. Người ta nói trại mãi thành quen, chỉ hiểu mà ít người cắt nghĩa được. Từ vật lệ thành việc lề, nghĩa là tỳ theo tổ phụ mình xưa kia sống bằng nghề gì, cuộc sống chánh yếu dựa vào thức nào thì con cháu nhớ gốc đó mà tìm thức ấy làm vật cúng. Như vậy nhà anh Tám cúng cá nướng, xin lỗi, chắc là ông bà xưa kia sống bằng nghề hạ bạc?
– Quả vậy, nhưng tôi thật không biết gốc gác, dòng giống, quê quán và thân thế ra sao. Điều tôi biết được là khi còn bé, tôi chuyên đi theo cha tôi làm nghề bắt cá, nên tôi cũng giỏi nghề bắt cá. Mỗi năm cúng việc lề toàn loại cá đồng không hà.
– Như vậy thì tôi đoán ông bà xưa ở theo đầm lầy sông rạch vì nếu ở biển thì không buộc phải cúng loại cá này, nhất là món cá nướng chấm muối ớt thì đúng là người sống ở đồng nội.
– Chắc là như vậy thôi, mời bắt tay cuốn liền, tôi còn một món đặc biệt cũng cúng trong dịp này, nhưng món đó vừa cúng, vừa ăn và phải ăn trên bếp.
Lê Sĩ Triệt chưa hiểu hết ý nghĩa việc cúng quảy nên hỏi thêm:
– Cháu hiểu nhưng còn thắc mắc, nếu lỡ ông bà mình xưa sống bằng nghề hành khất thì sao?
– Dù làm gì đi nữa thì cũng bắt buộc phải theo. Cho nên có người mang chức tước quan trọng, nhưng lúc cúng việc lề họ cũng giả dạng đi ăn xin như ông bà hồi xưa. Chỉ cần xin được một món đầu tiên, ít nhiều khinh trọng gì cũng tốt, rồi mua sắm thêm bất cứ thức ăn gì mà cúng.
Mâm cá nướng với bánh tráng rau sống cạn dần, còn lại những cái đầu cá trơ trọi và xương xẩu nằm hổn độn trong mâm. Bà Tám bưng lên cho mỗi người một tô nước sẫm màu bốc hơi nghi ngút. Đặng Nhượng khuấy muỗng múc lên, những miếng da cá nát nhừ trong tô, ông vừa thổi vừa húp thử:
– À, sao lại ngọt chị Tám nấu chè hay sao kìa?
– Đúng rồi chè cá đó anh.
– Có ai lại nấu chè cá bao giờ, ăn tanh chết.
– Cứ ăn sẽ biết. Món này chỉ có dòng họ tôi dùng mà thôi. Xưa nay nhiều người cũng có ăn, nhưng bí quyết nấu chè không tanh thì không ai truyền cho ai cả.
– Giấu nghề luôn với tôi à?
– Tục lệ là phải vậy, nhưng ta coi nhau như người nhà nên không dấu diếm. Nấu chè cá phải lựa chọn toàn cá rô đồng thật to mập, làm cho cho sạch, luộc chín, vuột bỏ xương, đầu rồi dùng mỡ chiên dòn, giả nhuyễn một củ gừng nấu với nước đường, nước sôi lên cho cá vào. Mỡ heo xắt nhuyễn bằng nửa ngón tay cho vào nước đường sôi ít dạo, mỡ vừa chín tới đem ra ăn liền khi còn nóng. Mỡ với cá có cái béo ngọt dịu nhẹ, mỡ heo vừa chín bị bó đường xung quanh, ăn dòn như mứt bí.
Đặng Nhượng và Lê Sĩ Triệt vừa thổi vừa ăn ngon làng, không ngờ đồng quê của ta có món ăn độc đáo ít người biết được. Đặng Nhượng hỏi:
– Điều thắc mắc của tôi là tại sao cá nấu chè mà không tanh?
– Bí quyết ở chỗ đó, chỉ nấu chè bằng cá rô đồng thôi anh bạn già mình ạ, mà phải nấu với mỡ heo có thêm gừng. Nấu loại cá khác, gia vị khác, mùi tanh ăn không nổi, bí mật ở chỗ đó đó.