KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG MƯỜI – KỲ 62 – Xuân Sắc

0
28

Dân chúng các nơi ra về, Thiên Hương lưu Chín Thép, Ba Sách, Bảy Gồng, Tám Trầm và toàn bộ số thuộc hạ người Miên của Khê Đon ở lại để giúp nàng trong công việc mới mẻ.

Trong cuộc hội ý đầu tiên họ bàn bạc việc lọc lựa những người trong sạch làm cốt lõi bộ máy trị an trong huyện.

Tám Trầm đưa ra ý kiến:

–        Hương chức vùng Suối Voi gồm toàn hung thần, ác quỷ. Người dân Suối Voi dỡ chết dỡ sống với bọn này bao nhiêu năm qua. Túi tham của Hà Đảnh quả vô cùng tận, dân Suối Voi lại đeo them mười cái túi của bọn hương chức nơi đây, chỉ cần mang một bằng sắc đơn sơ, tạm bợ chúng cũng thành ông cống, ông nghè. Tôi đơn cử một thí dụ: Thái Anh nhờ đem biếu cho quan một cặp lộc nhung mà được Hà Đảnh phong chức cai tuần trong xóm, khi y nhập vào bọn hương chức thì ông Năm Cang phải mất hai mẫu ruộng trở thành công điền mà số công điền thì xưa nay chỉ để chia tay cho hương chức. Họ hưởng được ruộng công điền, ngày mùa bắt dân phải đi cày, đi cấy, nhổ cỏ, bắt sâu, giữ nước. Khi lúa chin rồi cũng chính dân ra gặt hái. Thái Anh chỉ có đưa bồ ra chứa mà ăn, không tốn đồng nàolại được người ta lo cho chu toàn tất cả, thậm chí lúa công điền khỏi nộp thuế lên quan.

Đó chỉ mới nói về ruộng đồng, trong đời sống con người còn biết bao công việc khác. Như sự giao lưu qua lại, bán buôn, trao đổi sản vật cũng bị ngăn cản của bọn độc quyền. Việc muốn suông sẽ phải biết lì xì, hối lộ, ai sợ tổn phí thì sẽbị tịch bôi, chưa kể tháng này phải góp món này, tháng kia phải biếu món nọ. Bao nhiêu sưu dịch lớp làm nhà cho quan làng, lớp làm việc nặng nhọc cho hương chức… mỗi mỗi đều bắt dân gánh vác. Ta đến Suối Voi sẽ thấy cảnh xơ xác tiêu điều của dân chúng và cảnh sung mãn của các hương chức, quan viên ở đó. Lệnh trên ra một, bên dưới làm mười, chin phần khốn khổ dân chúng phải đưa lưng ra gánh vác. Bởi vậy lương dân ngày càng gầy rạc, còn bụng làng thì ngày càng phì ra.

Thiên Hương cau mày:

–        Trên hai mươi năm nay, Hà Đảnh bày ra nhiều tệ nạn làm cho dân chúng khốn khổ. Bọn theo đóm ăn tàn nhờ thế mà phất lên cao. Trong hương thôn Quan Hóa sự phân chia giữa hai tầng lớp sang hèn đã quá rõ rang. Đám cai trị thì nhà cửa khang trang, đồ sộ, còn người cùng khổ lưng còng áo rách, đói khát vất vả. Cái ăn cái mặc làm ra do mồ hôi của mình đều bị quan làng tát cạn bằng trăm ngàn mánh khóe. Cứu dân trừ bạo là bổn phận của ta. Bây giờ ta phải làm gì đây?

Đặng Nhượng nói:

–        Không phải một vùng Suối Voi mà toản huyện Quan Hóa đều khổ như nhau. Ta thử hỏi: Quan làng cai trị giành ruộng sâu trâu cái, quan làng giữ bán buôn, quan làng định giá mua giá bán, quan làng bắt bớ tịct thu, dân còn được cái gì đâu? Họ đói khổ vất vả, ốm o gầy mòn, chết dần chết mòn. Tiếng kêu của dân không thấu lên cao, bề trên nhìn không suốt chiều sâu, bên dưới vì bao nhiêu tần láo khoét, dối trá ngăn chận.

Khê Đon nói:

–        Ở trên chỗ tôi cũng thế. Tôi làm ăn cướp cũng vì cuộc sống khổ quá. Tôi có vợ ngộ lắm, tôi có sức trai mạnh, tôi làm ra nhiều tiền mua được trâu cái lớn. Tên mẹ sóc Prey Sala nó đi ngang, thấy vợ tôi nó ham, nó muốn. Hôm nọ nó cho lính bắt tôi, nói tôi ăn trộm. Tôi đâu có ăn trộm của ai, nó cũng nói đại, nói để bỏ tù tôi. Rồi nó bắt vợ tôi làm vợ nhỏ, tôi ở tù, vợ tôi dở nhà đem của cải nhập vào nhà nó. Chỉ còn thằng Trà Phí nó bỏ không them nuôi, đem giao cho bà má của tôi đó. Tôi khổ quá, má tôi chết đi, tôi vượt ngục về dẫn con đi trốn, lần hồi vì làm ăn không được, làm mười hột mình còn ăn ba bốn, cuối cùng đói quá tôi nhất định phải làm giàu, giàu hơn thằng mẹ sóc Prey Sala. Tôi đi ăn cướp, thiếu chút nữa chết, nếu người đánh tôi không phải là anh Lê Sĩ Triệt thì cả bọn tôi đã thành ma mất rồi. Bây giờ nói đến bọn quan làng tôi ức, tôi oán nó lắm.

Ông Chín Thép:

–        Luật pháp không thong, không ai hành xử, cảnh rối loạn do từ người cầm quyền mà ra. Muốn sửa được phải mất thời gian dài.

Ba Sách:

–        Như vậy là ta chịu thua à?

Cuộc bàn bạc sôi nổi, ai cũng muốn cho dân chúng đỡ khổ, mở mang đời sống tốt hơn. Ai cũng muốn cho bọn quan làng nhũng lạm không còn. Ai cũng muốn cho bộ máy an dân gọn gang sạch sẽ, vì dân chúng đang kỳ vọng vào mình. Nhưng cuối cùng vẫn không tìm ra biện pháp nào khả dĩ áp dụng được. Ngoài số người mới và Đặng Nhượng ra, số còn lại trng nha trước giờ ít nhiều cũng có theo đóm ăn tàn với bọn lũng đoạn trong huyện. Họ bàn bạc cùng nhau:

–        Khó quá, nếu bắt, giết đuổi, giam hết thì rồi lấy ai làm việc?

Bàn bạc tình hình càng lâu càng thấy nhiều điều bao nhiêu năm dài vướng mắc. Hầu hết các viên chức trong nha, khi nói về chuyện sửa  đổi kỷ cương thì họ lập lờ lẫn tránh hoặc nói chuyện nước đôi, hoặc bàn chuyện khó khăn, rắc rối về vây, về cánh, vì đụng ông này sẽ tới ông kia, bứt dây động rừng. Tất cả đều bế tắc. Thiên Hương biết là họ không muốn thay đổi vì chính bản than họ có ít nhiều sai phạm. Nàng lắc đầu:

–        Quí vị tuyển cho tôi mười người biết chữ nghĩa, trong sạch, liêm khiết. Cậu Đặng Nhượng cố gắng ngày đêm dạy họ cách thức làm việc ở địa phương từ anh hương cả đến anh thô trưởng, từ người trông coi điền thổ đến việc thuế má để cho họ biết làm. Còn tất cả quí vị khi về đến hương thôn của mình phải xem lại những ai vi phạm luật nước trong các vụ việc đã qua gởi gấp về huyện đường. Tôi sẽ cho người đến thẳng địa phương tiếp tay cùng quí vị. Tôi không muốn chúng ta chạy theo đường mòn của vết xe Hà Đảnh mà phải rà theo lối mòn ấy để khai quật những ẩn dấu tiềm tàng các mối hại, các nguy cơ. Tơi sẽ bật hết gốc cây, trồng vào đó các mầm sống mới được chăm bón tốt. Còn bọn tội phạm ấy nặng nhẹ, ảnh hưởng sao đó để tùy tội trạng mà đặt hình phạt thích nghi.

Có người hỏi:

–        Làm sao ta có bằng cớ để buộc tội họ?

–        Tôi quyết định lấy hai phía: một là dựa theo ý dân, hai là đem so sánh việc làm ăn của chúng với tài sản chúng có trong tay. Đó là chứng cứ chắc chắn và đúng đắn nhất.

Điều kiện tốt nhất cho nhữg ai trước kia va vấp tội phạm, muốn hối cải, sửa đổi thì phải làm ngay tờ tự thú kể rõ sự kiện, số của cải gồm thu bất chính như thế nào, đem giao nộp cho công khố gấp rút đó mới là người biết hối cải, sẽ được khoa hồng.

Tôi kêu gọi mọi người ai có tham gia ít nhiều các việc kể trên, hãy tự mình chấp hành lệnh này. Tự sửa đổi ngay trước bản than mình, sau đó mới có thể mưu cầu nghiệp lớn được. Nếu còn chần chừ nay mai cờ đại nghĩa Tây Sơn kéo đến e khó bề xoay sở kịp.

Tôi tin tất cả mọi người ai cũng có long vì dân, vì nước, nếu chấp nhận hy sinh vì đại nghĩa thì cần gì tư túi riêng. Phép vua luật nước không chừa riêng ai. Ta phải thẳng tay mới sửa được kỷ cương, dân chúng mới có lại long tin.

Tôi nói lại lời sau cùng, nếu ai thức tỉnh sớm thì làm tờ khai báo ngay. Nói thật, chúng ta không có gì giấu nhau được cả. Của cải mình giữ món nào không phải do công sức, trí tuệ mình làm ra là của phi nghĩa, nên đem giao cho công khố mới được kể là người tốt, vẫn được coi như người đứng đắn trước giờ, vẫn được giao việc quan trọng, ai cố tình che giấu kể như còn long đen tối, qua hết hạn kỳ sẽ bị trừng trị thẳng tay.

Ý chí cứng rắn và việc làm quyết liệt của Thiên Hương đưa ra chưa đầy một tháng, gây kinh hãi cho bọn người xấu, một số ít cố tình che giấu cũng bị dân chúng lôi tuột ra. Một số lớn tự thấy cuộc đời phải đến hồi sống tốt, không tốt không xong, bao nhiêu của cải phi pháp an hưởng đã nhiều rồi, giờ còn thì trả lại cho công khố cũng không có gì quá đáng, nên họ tự thú tội, tự giao nộp, họ đua nhau khai thật vì khai man cũng không ai tin. Người coiu công khố làm việc không kể giờ giấc. Người đem giao ộp cố sao cho sớm nhất để thành người tốt. Thiên Hương mở một lối rộng để làm an long mọi người. Nàng nói:

– Có lỗi không xấu, không sửa lỗi mới xấu và nhờ đó toàn huyện sôi nổi sửa mình.