KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG BỐN – KỲ 37 – Xuân Sắc

0
54

Bản tính đôn hậu của Trà Phí gây được cảm tình của mọi người chung quanh. Hàng đêm Trà Phí về nghỉ ngoài xóm được Lê Sĩ Triệt rèn luyện võ nghệ, càng gần gủi Lê Sĩ Triệt, Trà Phí càng yêu mến cung kính. Không chỉ nghe lời cha, Trà Phí linh cảm thấy đời mình kết chặt cùng họ Lê. Lê Sĩ TRiệt cũng đồng cảm như vậy nên chàng dạy dỗ Trà Phí thật hết lòng, hai người luôn tin tưởng, gắn bó với nhau. Trong huyện nha Trà Phí không bị ngăn cấm bất cứ nơi nào, anh như con thoi đi truyền lệnh quan cho khắp mọi người trong dinh. Lợi dụng bước chân đi rộng rãi ấy, lê Sĩ Triệt bày vẽ, sắp đặt cho Trà Phí đeo bám, tìm hiểu những điều cần biết rồi báo lại cho chàng. Nhờ đó mà việc đưa tin qua lại giữa chàng và Thiên Hươg càng thuận lợi gắn bó hơn.
Khi bệnh tình đã bình phục thì tính tham lam của quan huyện cũng hồi phục theo. Ông muốn gở lại sự hao hụt, mất mát trong thời gian mắc bệnh. Lại thêm sự hùa theo của Chu Thiện, người quản gia tính cẩn, Hà Đảnh dự tính làm lễ mừng thọ cho mình cốt để móc túi các thuộc hạ, các nhà có tiền, các khách hàng mua bán trong và ngoài huyện, ở đâu ông cũng với tay cho tới. Ông cho gọi Đặng Nhượng đến để bàn bạc, giao cho Đặng Nhượng đứng ra tổ chức đảm đang cuộc lễ mừng thọ.
Sau khi nghe ý kiến của Hà Đảnh, Đặng Nhượng ngạc nhiên:
– Bẩm quan, lệ hường người mình chỉ có ba lễ mừng thọ mà tuổi quan chưa đứng vào lễ nào hết thì làm sao được.
Hà Đảng ngạc nhiên hỏi:
– Sao ta không đứng được vào lễ nào cả à?
– Bẩm quan, lệ thường có ba lễ thọ, một là khi bước qua tuổi 61, mừng đáo tuế gọi là hạ thọ. Qua 73 tuổi, thêm một giáp nữa gọi là trung thọ, Đến 85 tuổi lớn hơn đáo tuế hai con giáp gọi là thượng thọ. Người xưa căn cứ chu kỳ của can chi cung trực theo lịch sách mà đặt ra. Còn quan lớn mới quá 50 tuổi, chưa đến tuổi mừng thọ đâu.
– Vậy sao? Ta tưởng vừa khỏi chết thì có quyền gọi là mừng thọ, không dè người xưa bày nhiều điều rắc rối. Nếu như ta cứ làm đại làm đùa chắc cũng không ai dám nói gì đâu!Chăm chú lắng nghe từ đầu, muốn lấy lòng Hà Đảnh nên quản gia Chu Thiện vuốt đuôi:
– Bẩm quan lớn, ý của quan lớn là một ý mới lạ. Theo tôi thì đáng hoan nghênh. Con người qua được một tuổi thì nên mừng một tuổi, cái quý là ta được sống. Người được sống mà không mừng được sống thì rất vô lý. Ta nên phá cái luật lệ cổ xưa cho nười sau nhờ cậy. Riêng tôi, tôi không được cách độc quyền giành sống của các lão già nh7 vậy đâu. Ta cứ làm lễ xem có ai dám nói gì ta, ai mở miệng sẽ có Chu Thiện này tính cho.
Đặng Nhượng cười nhẹ:
– Có ai rảnh mà cơm ăn cơm dỡ đi cản ngăn việc người khác. Thiên hạ có cười cũng chỉ cười thầm, họ kháo nhau cái dốt nát của mình, rồi mình tự thẹn lấy mình đó chứ?
– Nếu họ không dám cười ra mặt thì chẳng qua là một lũ hèn nhát có gì để ta quan tâm.
– Tôi chỉ quan tâm đến chỗ dân biết mà không nói, dân chê mà chê thầm, họ oán thù mà dấu trong tâm hồn, trong ánh mắt. Đó mới là những điều đáng sợ, người trị dân phải lấy đó làm mối lo cho mình.
Sau một lúc lặng thinh suy nghĩ, Hà Đảnh lên tiếng:
– Điều mong muốn của ta và Chu Thiện vẫn đúng mà ông nói cũng phải, vậy nếu có làm lễ thì làm sao cho hợp lý, bởi vì mình trị dân trước giờ làm họ ghét cũng nhiều, nay ta lại làm cho họ chê mình dốt nát thì càng tăng thêm sức chống đối, có hại thêm mà thôi. Ta phải làm cho họ vừa sợ, vừa phục mình mới hay. Chớ bây giờ mỗi việc đều dùng quyền thì không tốt đâu. Vậy ông hãy suy nghĩ cách làm giúp tôi xem nào.
Đặng Nhượng nói nhẹ nhàng:
– Nếu quan lớn quyết ý, theo tôi, ta có thể mở cuộc lễ giải nạn và trùng dịp mừng sinh nhật, để người đi tặng mình lễ vật họ khỏi nói mình đã làm sai mà còn gàn bướng. Làm như vậy mới nhẹ đi lời dị nghị của mọi người.
Hà Đảnh trả lời:
– hay. Lễ giải nạn rất đúng mà mừng sinh nhật càng hay. Người ta còn mừng sinh nhật hàng năm nữa kia.
Chu Thiện không cải lý được cùng Đặng Nhượng, nhưng ý vẫn còn hậm hực với Đặng Nhượng, liền hoạ theo Hà Đảnh để chữa thẹn:
– Năm nay quan lớn được năm mươi tuổi cũng đáng mừng thọ lắm rồi. Tại sao ta không vui vẻ, chúc thọ mà lại ngăn trở theo ba cái tục lệ cổ hủ. Ông Đặng Nhượng cố chấp câu nệ như vậy mà cũng xưng là người trí giả.
– Tôi nói đây chỉ vì uy tín của người trị dân. Tập quán đã có ngàn đời, muốn xoá bỏ cũng phải mất thời gian lâu dài. Ta chưa dạy dân phân biêt được điều hay dở, mà dùng quyền lực để trấn áp, làm càn tôi e rằng tất cả hậu quả ta phải lãnh đủ. Tôi lo là lo như vậy chớ có gì phải ngăn cản.
Ngưng một lát Đặng Nhượng tiếp theo:
– Ông Chu Thiện này, nếu là người có lương tâm, mình phải lấy điều có lợi cho nước cho dân mới nên bàn bạc hiến kế lên quan. Như việc hôm nay ta phải tính toán cho hợp lý hợp tình, để tỏ ra cả bọn ta không phải ỷ quyền thế mà làm điều trái lẽ. Dân có tâm phục thì địa vị quan mới đứng vững và nâng cao. Nếu ta ngông nhênh ỷ mạnh, cậy thế dùng quyền làm càn bất chấp điều hay dở, đến một ngày nào đó khi sức mạnh đã rời khỏi tay ta thì cái phản ứng dồn nén lâu ngày sẽ bừng lên như sấm sét đánh vào, lúc ấy chỗ đâu mà tránh. Người xưa nói: “Dân như nước, quan như thuyền”. Rõ ràng, nâng thuyền lên là nước mà nhận thuyền chìm cũng là nước. Tóm lại, ta còn là do dân, mà mất cũng do dân. Bây giờ tôi xin nói thẳng cùng quan lớn, nếu ngài làm lễ mừng thoát nạn và sinh nhật thì tôi sẽ nhận đảm đang, còn nếu làm lễ mừng thọ thì xin ngài cứ giao cho Chu Thiện,
Hà Đảnh gật đầu nói dứt khoát:
– Tôi giao cho ông. Chu Thiện không được nhiều lời nữa.