KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG BỐN: KỲ 36 – Xuân Sắc

0
32

Ông có nghề câu cá, ông biết rõ giống cá nào thích mồi nào, khi nào chúng ở sâu, khi nào lên cạn, ban ngày thả mồi thế nào, ban đêm phải làm sao, trýa nắng thì cá nấp vào đổ mát theo bờ, chiều trời cá tung tăng bõi lội tìm mồi. Tuỳ loại cá lớn nhỏ ông có lýỡi câu kiểu cách riêng biệt. Trong nhà ông có đủ loại nhý câu nhấp bắt con cá gộc, câu cắm bắt cá đủ loại, cần câu cá rô, cần câu cá trê đầy đủ. Nếu cần phải đi theo bàu, vũng, býng, rạch ông cũng có mấy gắp câu giăng.

Ông Tám mê câu như trai mới lớn mê mèo chuột. Sáng sớm, cõm nýớc xong ông xách câu đi liền, chiều tối, giờ dậu ông ra đi đến nửa giờ tuất thì mang về đầy giỏ cá. Mýời bữa không sai một.

Bà Tám ở nhà lo bán cá mua gạo nấu cõm. Ông bà có đứa con làm vệ sĩ trong nha, vợ nó chết để lại đứa con gái, cả ngày bà cháu hủ hỉ với nhau.

Từ ngày con ông Tám là Lê Thanh và Lê Sĩ Triệt nhìn nhau là đồng tông rồi đýa nhau về nhà, ông dành cho chàng một gian nhà ngăn riêng theo ý mà ở. Trong nhà có Lê Sĩ Triệt nhý sống động hẳn ra, vui vẻ thêm nhiều. Ông Tám hay ở nhà nói chuyện đời. Bà Tám lo miếng ăn sốt nóng, Lê Thành ít bỏ nhà đi chõi. Bé Thanh Thảo hồn nhiên ca hát, luôn quấn quít theo bác Lê. Gia đình tăng thêm sức sống, tràn ngập tiếng cười. Nhận biết điều ấy nên cả nhà ai cũng quí mến Lê Sĩ Triệt.

Mây hôm nay, Sĩ Triệt lại đýa Khê Đon và Bảy Gồng về tạm trú. Sẵn dịp, ông Tám nghỉ đi câu ở nhà trò chuyện, bà Tám ra chợ mua sắm thức ăn. Mọi người quây quần vui vẻ trong bữa cõm thân mật của gia đình.

Về chiều, Đặng Nhượng đýa Trà Phí trở ra. Lại một bữa cõm thịnh soạn bằng lạng bạc của Trà Phí đem về, Khê Đon đưa cho bà Tám mua sắm thức ăn:

– Bà Tám mua hết đi, ăn chõi một bữa. Không có lạng bạc tôi cũng không nghèo hõn bây giờđâu!

Họ là người tứ phưõng, đủ mọi thành phần nghề nghiệp, hai dân tộc, dù khác nhau nhưng là láng giềng, quen nhau qua Lê Sĩ Triệt, có dịp ngồi lại gần nhau. Là những ngýời chuộng nghĩa, họ quí mến nhau thật tình. Trong lúc vui, Khê Đon hỏi Bảy Gồng:

– Anh có gồng, tôi cũng có gồng. Tôi thua anh về tài bắt và điều khiển con rắn. Xin anh dạy cho tôi cách bắt rắn để cứu đời. Tôi xin làm học trò anh đó.

Bảy Gồng cười thoải mái, cho tay vào túi lấy ra một hộp gỗ nhỏ bằng ba ngón tay, mở nắp ra và nói:

– Đây là thuốc phiện, nhựa một loại cây mọc bên Lào, hút nó say lắm. Thuốc phiện pha chế với mật con hồng hoàng, thành ra loại thuốc kỵ rắn. Gặp hang rắn ta lấy thuốc xoa vào tay, đýa ra vỗ vào miệng hang vài cái, con rắn chịu không nổi hõi thuốc, buộc lòng phải bò ra, nhýng đã say thuốc lờ đờ. Thấy nó thì chụp ngay vào cổ và lấy lưỡi dao nghề của mình, bóp họng cho nó hả miệng ra, đýa dao vào cọ gẩy hết răng, khớp miệng lại cho vào giỏ rồi đến con rắn khác, cứ thế cho đến hết rắn trong hang.

– Vì sao phải vỗ miệng hang ba cái?

– Người ta bày đặt để thiên hạ thấy có vẻ huyền bí, chứ vỗ vài ba cái hay vài cựuc cái cũng vậy thôi.

– Ngộ quá hén, cám õn ông thầy dạy Bảy Gồng của tôi.

Đến khuya, Đặng Nhượng vào dinh, Lê Thanh cũng đến giờ đi đốc canh. Ông bà Tám Trẩm thu dọn chén đũa. Còn lại ba người, Khê Đon chỉ Trà Phí rồi hỏi Sĩ Triệt:

– Bây giờ tôi đem nó giao cho anh đó. Anh coi tôi sửa soạn em nó nhý vậy được không? Cả tháng nay tôi không cho nó chẻ một miếng củi hay nấu một nồi cõm. bắt nó xuống suối tắm ngày ba lần, kỳ cọ lá thõm cho hết khét nắng.

– Bữa nay trông Trà Phí đẹp ra nhiều. Nhưng sao chú không để em làm việc lại bắt ở không như vậy?

– Phải để kở không cho nó trắng, nó sạch, nó đẹp chớ. Tôi đã hứa mà. Tôi bây giờ lớn tuổi rồi, có một mình nó, tôi thýõng lắm, nó đi theo tôi thì nó cũng hý hỏng nhý tôi. Thấy nó tốt sẵn tôi cũng muốn nó tốt hõn. Tôi thấy anh nó thật tốt, tôi vui lòng cho nó theo anh, nó đỡ tay đỡ chân và anh dạy nó học. Nó phải khôn, phải giỏi, phải hõn tôi kìa, tôi mới chịu. Trà Phí tao biểu phải nghe lời anh, sống chết với anh nghe con. Cha chọn được người tài, người tốt cho con theo học đó. Một đời con phải gắn chặt với thầy nghen. Mai tao về, làm có tiền tao xuống thăm cho mày ăn bánh.

 

*****