KỲ TÍCH BÀ ĐEN – CHƯƠNG BA – Kỳ 25 – Xuân Sắc

0
49

Sau bữa cơm với thịt cheo kho sả ớt rất ngon miệng, đêm về chàng và ông cụ đem chiếc chỏng tre ra sân cùng ngắm trăng uống trà. Xóm Truông Cây Mít có độ trên mười nóc gia gần nhau, nhà cửa đơn sơ, dân cư ít ỏi mà có tinh thần đoàn kết để sống giữa nơi hoang vắng. Biết cụ già có khách lần lượt những cụ già cùng xóm đến chơi, họ trải đệm xuống đất giữa sân, đống un cạnh đó được bắt lên ấm nước trà rừng sôi sục, họ ăn khô nai uống trà, món ăn quý nhất chỉ dùng để đãi khách vì chẳng có chi hơn. Càng về khuya ấm trà càng đậm, nghĩa tình con người càng quyện chặt, các ông cụ luân phiên bổ sung cho nhau những câu chuyện rừng, hấp dẫn bất tận.

–        Đây là Truông Cây Mít. Vì ở chỗ khúc quanh có một cây mít nài. Mít nài là một loại mít ri72ng hoang dại, mít nài có một sức sống kỳ lạ, lớn rất mau, cùng lứa tuổi với cây khác thì mười năm sau nó lớn gấp đôi, hai mươi năm lớn gấp ba, cứ thế mà to dần. Khi các cây cùng tuổi chưa bằng vòng tay, thì mít nài hai người ôm không hết. Nó là loại gỗ quý, bao lớn cũng có lõi, càng lớn lõi càng ra tận da. Cái đặc biệt của nó là thịt gỗ xốp, nhẹ nhưng lại rất dẻo, rất bền, có thể để nằm lâu năm trong đất khi đẽo ra vẫn còn nguyên rất tốt, những loài mối mọt không đục phá như loại gỗ thường, đáng chú ý là các chùa miểu hay dùng gỗ này để tạc tượng hoặc làm vật trang trí. Còn người dân thì chẳng một ai dám dùng gỗ mít nài cả.

Lê Sĩ Triệt hỏi:

–        Tại sao dân không dùng hở bác?

–        Bác cũng khó trả lời, vì người ta không giải thích được. Khi các vật dụng dùng trong nhà như tủ, bàn ghế, thậm chí vách phên đóng làm bằng loại cây này, ngày nắng cháy hay mưa dầm dề từ trong thớ gỗ có tiếng chuyển mình trèo trẹo, răng rắc, có lúc kêu to bôm bốp, dù những khi ấy không có vật gì va chạm vào.

–        Phải chăng là do sự co giản của cây?

–        Bác cũng nghĩ như thế, sớ thịt cây này cấu tạo dạng chân tôm, nhiều lớp ngược xuôi, ngang dọc mà không theo nếp thẳng nào, thớ thịt to mà thưa, chen trong đó có nhựa luôn bao quanh nên luôn bóng bẩy, vì dễ hấp thụ khí trời, sự co giản của nó bị ức chế trong các khuôn rập do cấu tạo của đồ dùng mới gây những tiếng động đột ngột trong lúc co giản.

Vì gỗ mít nài quý hiếm, kích thước to lớn để đáp ứng các yêu cầu khuôn khổ của người dùng, các lão thầy tu muốn muốn được độc quyền sữ dụng loại gỗ quý ấy, họ đã dựng huyền thoại cho nó là loại “cây ma” chỉ nên để cho các chùa sữ dụng mà thôi, thành thử dân thường không ai dám sữ dụng.

Trái mít nài có gai như trái mít nhà to bằng cổ bắp chân, múi mít nhỏ như ngón tay, trái chín có vị chua chua, ngọt ngọt. Thân cây tròn trịa to lớn lại suông sẻ, ta hạ một cây mít nài cùng một loại cây khác thì mít nài cho ta khối lượng gỗ dùng gấp hai, ba lần cây thường.

Nơi đây là Truông Cây Mít Nài, qua nhiều đời được gọi đơn giản là Truông Cây Mít và có thể về sau người ta sẽ loại bỏ bớt cho giản tiện và kêu bằng Truông Mít không chừng. Ở bìa truông có năm sáu gia đình phá rừng làm rẫy sinh sống. Về hướng đông qua đồng trảng lớn có một giòng suối, được gọi là Suối Nhánh. Từ bìa xóm đi bộ hai trống canh là đến thành cổ Bàu Đồn. Ở Truông Cây Mít thỉnh thoảng lại xuất hiện con cọp vằn vắt khăn về phá, bắt heo, bắt chó có khi giết cả trâu bò. Nếu không trừ được thì có lẽ xóm này sẽ bỏ dời đi nơi khác.

Lê Sĩ Triệt nói:

–        Hồi còn ở chùa con có nghe nói đến con cọp này, nó phá khuấy nhiều nơi, bắt cả người nữa.

–        Con cọp vắt khăn này tinh khôn lắm, nó hung dữ vô cùng thường hay mò vào xóm bắt chó, bắt heo, trâu bò, có khi ăn cả thịt con người. Tầm hoạt động rộng lớn hung bạo gần bằng một đạo binh nhỏ. Khắp vùng từ Hố Bò, Xóm Ươm, Bùng Binh, Bời Lời, Bàu Găng, Bố Bịt, Nước Đục, Bến Buôn, Suối Nhánh và Truông Cây Mít này nơi nào cũng có vết chân. Nếu đêm này nghe nó ở Truông Cây Mít thì khoảng năm bảy hôm sau, nghe nó xuất hiện ở miệt Hố Bò. Cứ thế mà luân chuyển dời chỗ. Một con thú tinh khôn, nhiều thợ săn tổ chức truy tầm nhưng không gặp được vì không biết hang ổ nó ở đâu và sự đi lại của nó thế nào?

Cách đây ba năm một vụ cọp giết người rùng rợn mà cũng buồn cười, Ba Lù và Năm Béo là hai tên thổ hào ở vùng Bến Buông, nhò khéo a dua, nịnh cùng quan huyện Quan Hoá nên được ban chức quản thôn. Ở dọc con sông từ Bến Buông đến Bưng Bàng. Xứ này rãi rác có khoảng năm mươi nóc gia chuyên sống bằng nghề lấy chai, đốt dầu con rái và đáng lờ, đánh lọp dưới sông.