Hưởng ứng cuộc thi Bút ký Đất Đứng: Nỗi nhớ xôn xao – Bút ký La Ngạc Thụy

2
9

 

Hưởng ứng cuộc thi bút ký Đất Đứng

Nỗi nhớ xôn xao

Bút ký La Ngạc Thụy

 

Tôi sống ở phố thị từ thuở còn thơ, mỗi lần trở lại thăm nơi tôi đã sống và công tác dù chỉ hơn mười năm, tôi cứ lấn cấn mãi với từ “về”. Ở một nơi mà mình đã gắn bó thiết thân, dù thời gian rất ngắn so với đời người, có thể nói là “về” hay không? Nếu ai có hỏi đi đâu? Tôi trả lời “về Tân Bình” không chút ngượng ngập, mà nói là “đi Tân Bình” nghe xa cách làm sao ấy? Trong tôi đến tận bây giờ Tân Bình vẫn là nơi gắn bó thiết thân nhất, bởi tôi là người đầu tiên lên vùng đất này xây trường mở lớp từ ngày mới thành lập xã. Do vậy, khi thị xã Tây Ninh đã trở thành thành phố, mà Tân Bình  là một xã ngoại thành, tôi phải “về” thăm để xem sự phát triễn của vùng quê xưa đến mức độ nào?

Nhớ lại, giải phóng năm 1975, nhưng mãi đến ngày 03 tháng 5 năm 1978 xã Tân Bình mới được thành lập, tách ra từ xã Thạnh Tân thuộc huyện Hòa Thành. Đến  ngày 10 tháng 8 năm 2001 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định 46/2001/NĐ-CP mở rộng địa giới hành chính, xã Tân Bình trực thuộc thị xã Tây Ninh và ngày 29 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị quyết số 135/2013/NQ-CP ” về việc thành lập các phường Ninh Sơn, Ninh Thạnh thuộc thị xã Tây Ninh và thành lập thành phố Tây Ninh thuộc tỉnh Tây Ninh”, một lần nữa Tân Bình lại đổi đơn vị hành chánh, trở thành một xã ngoại thành của thành phố.

Con đường qua xóm Tà Mun đã được nâng cấp

Từ một xã nông thôn mới thành lập sau giải phóng, vùng đất nầy bạc màu, khô cằn đến cây mì là loại cây có sức chịu đựng nắng gió mà vẫn tong teo lá cuốn con sâu, đúng như câu thơ “nắng hóa con sâu cuốn lá mì” của nhà thơ Vũ Mậu Tý đã cảm thán. Thế mà hôm nay, đứng bên bờ kênh Tây lộng gió, trên khoảng trời mây trắng là những ống khói của hai nhà máy chế biến mì, mía đang tuôn những cuộn khói cũng trắng như mây trời, ngầm chứa sức sống tràn đầy của những nông dân chân lấm tay bùn ngày nào đã trở thành công nhân nhà máy.

Ký ức tôi chợt trỗi dậy vào những năm 70, 80 của thế kỷ trước, giai đoạn hình thành và từng bước xây dựng. Tôi không tự cho mình là người hiểu biết quá trình phát triễn của một vùng đất rộng, người thưa với thuở ban sơ chỉ có những căn chòi tranh trống hoác đón gió lộng và nắng đổ về chiều, chen lẫn với đất hoang mọc đầy cỏ dại, rừng chồi là từng khoảng rẫy mì, rẫy mía năng suất chỉ đạt cao nhất bảy tấn/hecta. Hệ thống giao thông chỉ có hơn ba kilomet đường đất mới mở để chuyển vật tư vào xây dựng cơ ngơi ban đầu cho các cơ quan chức năng của xã, nhòe nhoẹt bùn lầy vào mùa mưa, các thầy cô giáo mới chuyển vào giảng dạy đúng vào mùa mưa, có đoạn phải tháo giầy, dép vác xe đạp lên vai cẩn thận dò từng bước đi, vậy mà có lúc trợt chân té ngả, quần áo lấm lem bùn nhão. Các thầy thì vào một căn chòi nào đó tắm rửa, mặc cho quần áo còn ướt rồi tiếp tục lên đường, còn các cô đành chấp nhận quay về bỏ cả buổi dạy. Mùa mưa thì thế, còn mùa nắng thì tung bụi đỏ mù trời mỗi khi có chiếc xe máy chạy qua. Các em đi học phải băng đồng, lội ruộng, men theo đường mòn, mùa mưa bùn lấm ống chân. Chủ tịch UBND xã hiện nay – Nguyễn Thanh Minh là một trong những học sinh thuở ấy vẫn chưa quên hết những nhọc nhằn, vất vả thời còn đi học.

Điều quan tâm đặc biệt trong lần tôi trở về thăm Tân Bình là việc xây dựng hệ thống giao thông. Bởi lẽ, sau mười năm công tác ở xã, hòa nhập với cuộc sống người dân, điều ray rức nhất của tôi là những con đường. Vì chính những con đường đã để lại trong ký ức những kỷ niệm không thể nào quên. Khi mới thành lập xã chỉ có lộ 12 mới mở nối từ đường 785 vào trung tâm xã đầy ổ gà, ổ voi, nắng thì bụi mù trời, mưa thì lầy lội trơn trợt; sau này có thêm hai con đường là hai bờ kênh Tây. Đường nối các xóm ấp thì không có một con đường nào cho ra đường, toàn là lối mòn ngẫu nhiên hình thành trong chiến tranh. Việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân chỉ bằng xe đạp vòng vèo, quanh co theo đường mòn, ranh đất hoặc chậm chạp bằng các xe do trâu bò kéo. Học sinh đến trường phải lội ruộng, băng đồng nhấp nhô giữa nắng mưa. Nhất là con đường vào xóm Tà Mun, cũng là ranh giới hai xã, không ai tưởng đây là con đường mà là những hố trủng, đầm lầy nối tiếp nhau do các loại xe trâu, xe bò kéo cây gỗ từ rừng Tân Hưng về để dựng nhà cửa cày nát từng đoạn, có đoạn nước ngập lầy lội, trủng sâu ngập quá đầu người, mỗi lần xe qua phải hy sinh nhiều đoạn gỗ kê cho bánh xe niền sắt đi qua. Qua được đoạn đường này phải tốn nhiều công sức, nhọc nhằn và gian nan. Gặp lại anh Phạm Văn Năm, nguyên bí thư xã, hỏi thăm về cuộc sống của bà con dân tộc Tà Mun. Anh Năm phấn khởi cho biết: Tốt rồi, không còn hộ đói nữa. Đường xá thì đã đi lại dễ dàng không còn khó khăn như xưa. Anh vào thăm đi, chắc chắn anh sẽ ngạc nhiên đến sững sốt cho mà xem.

Đúng là tôi sững sờ thật sự. Con đường xưa, nay đã được san lấp, phối cấp đá đỏ bằng phẳng, thông thoáng dài hơn sáu trăm mét, rộng mười hai mét với tổng kinh phí hơn năm trăm triệu đồng do tỉnh hỗ trợ và xã làm chủ đầu tư thi công. Con đường được nâng cấp cũng nâng niềm vui của bà con dân tộc Tà Mun hai xã, nối liền với con đường nhựa liên xã.

Lại nhớ, năm 2003 khi Đảng ủy và UBND xã đề ra chủ trương làm đường, không ai tin rằng chỉ hơn bảy năm mà ba mươi tám tuyến đường trên địa bàn toàn xã đã hoàn thành cơ bản với bốn tuyến đường nhựa hóa, mười tuyến đường nâng cấp phún hóa, trong đó có bốn tuyến đường rọc tuyến dài hơn năm kilomet tạo thành những tuyến đường huyết mạch xuyên qua các ấp, xóm thôn rất thuận lợi trong việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân đến từng địa bàn dân cư, ruộng rẫy.

Điều đáng ghi nhận là những tuyến đường được nâng cấp, mở mới đều được bà con đồng tình tự nguyện hiến đất, cây trái, hoa màu, công trình kiến trúc … Đó là kết quả tất yếu khi địa phương biết phát huy dân chủ cơ sở. Dạo quanh một vòng toàn xã, lắng nghe và ghi nhận, nếu như hệ thống lại tôi như đang chứng kiến một thực tế sinh động diễn ra trước mắt. Đầu tiên, từ một con lộ nhỏ hẹp, bề ngang chừng hơn một mét, dài sáu trăm ba mươi lăm mét, ở Tổ 19 ấp Tân Trung, hình thành tự nhiên trong quá trình đi lại sản xuất của người dân; mùa mưa thì lầy lội, việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân rất khó khăn, nhọc nhằn. Và chính những hộ dân ở đó đã cùng chính quyền bàn bạc để mở rộng con đường. Dân thì tự nguyện hiến đất, kẻ ít người nhiều với tổng giá trị đất đai, hoa màu thời điểm đó lên đến hơn một trăm năm mươi ba triệu đồng. Chính quyền thì lên kế hoạch thực hiện. Nhờ vậy, con lộ nhỏ đã được mở rộng hơn mười mét đi vào miệt vườn mãng cầu, một loại trái cây đặc sản của Tây Ninh.

Ở thành phố Tây Ninh,khi còn là thị xã có một chủ trương như thế này: nơi nào vận động được người dân đóng góp, thị xã sẽ cấp vốn đối ứng để làm đường. Từ chủ trương đó và từ hiệu quả của việc làm đường ở Tổ 19, xã đã đề ra kế hoạch phát đông toàn dân tự nguyện hiến đất làm đường để tạo ra vốn “đối ứng” nhằm “thu hút” vốn đầu tư của cấp trên. Thế là sau một thời gian tính toán, khảo sát trên cơ sở thu thập ý kiến của dân, xã lên phương án nâng cấp và mở mới những con đường. Ở ấp Tân Trung, trung tâm xã thì nâng cấp láng nhựa con đường chính liên xã dài chín kilomet, ngang mười hai mét kinh phí do nhà nước hỗ trợ, người dân tự nguyện chấp nhận không đền bù thiệt hại hoa màu. Ở ấp Tân Phước thì mở rộng, nâng cấp láng nhựa con đường cặp trụ sở UBND xã rộng mười mét, dài gần hai kilomet. Ở ấp Tân Lập thì nâng cấp láng nhựa đường số 1 rộng mười hai mét, dài hơn hai kilomét. Riêng ấp Tân Hòa thì mở rộng con đường xe bò trũng sâu, có đoạn mở mới rộng mười mét, dài hơn một ngàn năm trăm mét và trải sỏi đỏ… Tất cả những con đường đó, tổng cộng kinh phí đối ứng đóng góp của dân thông qua việc hiến đất, không đền bù thiệt hại hoa màu, công trình kiến trúc, hàng rào lên đến hai tỉ đồng. Một con số khá lớn thời điểm đó nếu như so với mức thu nhập của người dân vừa mới trải qua qua những năm tháng nhọc nhằn xây dựng từ con số không.

Không dừng lại ở đó, đến năm 2009, được sự hỗ trợ mới từ tỉnh, thị xã và qua thực tế hư hỏng cũng như nhu cầu đi lại của người dân được thuận lợi hơn xã đã lên kế hoạch tiếp tục vận động và được tỉnh, thị xã đồng tình đầu tư đã nâng cấp sỏi đỏ đường tổ 1 ấp Tân Hòa, tổ 9, tổ11, tổ 21 ấp Tân Trung và cải tạo nâng cấp cống qua đường tổ 12 ấp Tân Lập và công trình chào mừng Đại hội Tỉnh Đảng bộ xuyên qua xóm Tà Mun ở ấp Tân Lập với tổng chiều dài hơn năm kilomet với tổng vốn đầu tư hơn hai tỉ bảy trăm triệu đồng.

Nếu như chỉ kể chuyện làm đường mà không nhắc đến chuyện người dân tự nguyện hiến đất là một thiếu sót lớn. Những cái tên đáng kể nhất là anh Phan Văn Chính, Trần Văn Ninh hiến bề ngang bốn mét dài hơn hai trăm mét. Anh Lê Thành Mỹ hiến trên chín trăm mét vuông đất ruộng và anh Đồng Văn Hưởng cũng hiến trên chín trăm mét vuông đất và năm mươi cây mãng cầu đang cho trái vì đất của các anh nằm trên đoạn đường phải mở mới.

Có đến thăm và nghe người dân tâm sự mới hiểu hết chuyện làm đường của xã Tân Bình. Có thể tóm gọn lại như sau: “Tự nguyện hiến một số đất và những thiệt hại khác nhưng thu lợi rất nhiều, giá trị đất đai tăng lên còn hơn bán phần đất đó, chưa kể việc đi lại thuận tiện, không còn vất vả, lo toan mỗi khi mùa thu hoạch đến”. Và còn một điều người dân chưa kể đó là khi có con đường, khu dân cư hình thành, hệ thống điện nước vào theo, cuộc sống vật chất và tinh thần nâng lên thấy rõ. Nhà nào cũng có điện thắp sáng, truyền hình, cassettes … tưới vườn cây bằng mô-tơ điện và đặc biệt mỗi chiều có thể thả bộ nhàn nhã đến các quán cà phê nhạc thư giản tinh thần sau một ngày lao động mệt nhọc …

 

La Ngạc Thụy

 

2 BÌNH LUẬN

  1. Cách nay chưa lâu tôi và nhà thơ Trần Minh Tạo có dịp đón đưa các văn nghệ sĩ của tỉnh Tây Ninh đến thực tế sáng tác tại Đồng Tháp. Xin gửi lời chúc mừng sự hoạt động phong phú, đa dạng của các anh chị em hiện nay. Chúc thành công mỹ mản về cuộc thi văn học có ý nghĩa lớn rộng nầy. Thân mến

Comments are closed.