ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀI THƠ NGÔN HOÀI CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ – Đào Thái Sơn

3
2201

 

 

ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀI THƠ NGÔN HOÀI

CỦA KHÔNG LỘ THIỀN SƯ

Đào Thái Sơn 


Ngoài Ngư nhàn, Không Lộ Thiền Sư còn để lại cho đời một bài thơ trứ danh khác đó là Ngôn hoài ( Tỏ lòng ). Bài thơ được đưa vào sách giáo khoa Văn học lớp 10 ( Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000), đó là một tín hiệu vui và cần thiết. Nhưng cũng thật lạ là bài thơ  thiền này lại được giảng và hiểu như một tác phẩm của thế tục! Điều đó cần phải được xem lại một cách hết sức thận trọng. 

Trạch đắc long xà địa khả cư

Dã tình chung nhật lạc vô dư

Hữu thì trực thướng cô phong đỉnh

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư. 

(Kiểu đất long xà chọn được nơi/ Tình quê lai láng suốt ngày vui / Có khi lên thẳng trên đỉnh núi / Một tiếng kêu vang lạnh cả trời) 

Trong Thơ văn Lý Trần do Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn và giới thiệu đã giảng về bài thơ này như sau : ” Trước hết câu mở đầu thể hiện tâm trạng hài lòng, thanh thản của nhà thơ vì theo quan niệm phong thủy của người xưa. Giữa hai câu trên và hai câu dưới có sự chuyển biến thật đột ngột bởi một hình tượng thơ độc đáo kỳ lạ: đang niềm vui trần thế lên đỉnh núi cao trơ trọi, kêu một tiếng vang trời. Ở đây con người hiện ra với sự chủ động, dứt khoát, với một khí phách mạnh mẽ, hào hùng : đã trèo là trèo một mạch ” trèo thẳng lên” ! Không chút do dự rụt rè, đã lên là lên thật cao tận đỉnh núi chứ không lưng chừng, đã kêu thì không cần nhiều, chỉ ” một tiếng kêu vang” mà làm cho cả vũ trụ bao la phải kinh ngạc đến ớn lạnh, rùng mình…với bấy nhiêu điều đó cũng đủ biết cái cảm hứng vũ trụ, cái tư thế, cái khát vọng vươn tới đất trời bao la của nhà sư kiêm nhà thơ này mãnh liệt đến đâu, bên cạnh niềm vui trần thế mà ông đã có”. Cách giảng và hiểu này mới nhìn có vẻ có lý, nhưng kỳ thực lại là một hiểu quá khuôn sáo và không thích đáng. Nếu dời sư Không Lộ xuống sống vào thời Trần hay thời Lê khi mà Nho học thịnh hành thì có lẽ được, hoặc giả là cho sư Không Lộ đang hoàn tục ! Còn đằng này Không Lộ là nhà sư chân tu của thời Lý, Phật giáo đang thịnh, nên áp đặt cách hiểu như thế là quá vô lý. Thực ra bài thơ này không có tựa, Ngôn hoài chỉ là người đời sau thêm vào mà thôi. Nên cũng không có chuyện tỏ lòng hay tỏ ý chí gì cả. 

Sách Thiền uyển tập anh ghi chép một cách khá cụ thể về bài thơ này : ” Trong khoảng Chương Thánh Gia Khánh ( 1059 – 1065 ) cùng bạn là Giác Hải cất bước vân du, tạm đến chùa Hà Trạch nương thân, mặc áo cỏ, ăn lá cây, đến nỗi quên chính thân mình. Ngoài dứt ruổi dong, trong tu thiền định, tâm thần tai mắt ngày một nhẹ nhàng, bèn bay lên không, đi trên nước, làm cọp nép, kêu rồng xuống, muôn quái nghìn kỳ, người không lường nổi. Sau sư về quận mình lập chùa. Một hôm có thị giả thưa rằng : ” Từ ngày con đến đây chưa được thầy dạy chỗ tâm yếu, nhưng con mạn phép xin trình một bài kệ”. 

Đoàn luyện thân tâm thủy đắc thanh

Sum sum trực cán đối hư linh

Hữu thân lai vấn không không pháp

Thân tại bình biên ảnh tập hình

(Rèn luyện thân tâm tựa nước thanh / Sân thênh cổ thụ tỏa sum cành/ Có người thỉnh giáo tâm pháp Phật / Lưng dựa bình phong bóng tựa hình) 

Sư xem xong bảo: ” Ngươi đem kinh đến, ta vì ngươi nhận, ngươi mang nước đến ta vì ngươi uống, thì có chỗ nào mà lại không cho ngươi tâm yếu! Bèn cất tiếng cười ha hả. Và đọc bài kệ trên ( Ngôn hoài ) – Theo bản dịch của Lê Mạnh Thát “. 

Qua Thiền uyển tập anh ta thấy Ngôn hoài thực chất nó là một bài kệ trả lời và truyền tâm yếu cho đệ tử chứ hoàn toàn không phải là một bài thơ trữ tình. Bài kệ là một chuỗi ẩn dụ, ám thị về một triết lý thiền hết sức uyên áo thâm thúy mà nhà sư muốn truyền cho đệ tử của mình. 

Các tác giả SGK lớp 10 cho rằng theo thuyết phong thủy xưa, long xà là nơi có mạch đất uốn lượn như rồng rắn. Làm nhà trên mạch đất đó sẽ thịnh vượng. Đó chỉ là một cách hiểu. Nhưng nhà sư có xây cất nhà đâu, sư cần sự thịnh vượng giàu có để làm gì ? Sư đang khai thị cho đệ tử kia mà ! Thực ra ” long xà địa” Từ nguyên cho biết là đất có thể dung thân, sau làm nơi ở ẩn. Vậy ba chữ đất long xà chẳng qua là chọn nơi thanh vắng thích hợp để tu tập đạo học. Vì có tu thì mới có đắc đạo ! Hai chữ ” dã tình” phải hiểu là để cái tình vào nơi thanh tịnh, tức là tâm không bị ngoại vật tác động cho xáo trộn, có như thế thì mới ” lạc đạo” được. Hai câu thơ đầu nhìn bề ngoại có vẻ vui thú điền viên, nhưng kỳ thực lại là hàm ẩn một vấn đề khác – vấn đề chọn nơi thích hợp để thân tâm thanh tịnh, tu Phật. 

Câu thứ ba chuyển hướng kỳ lạ. Đang vui tại sao trèo lên đỉnh núi trơ trọi để làm gì? Đó chính là thời khắc đốn ngộ của người tu đắc đạo. Đốn ngộ chẳng qua là trạng thái thể nghiệm tâm linh của một cá nhân một khi tâm linh đó được giải thoát. Theo Từ Kiến Trung thì ” người đốn ngộ không chinh phục gì, không đi đâu cả, mà chỉ nhờ trực giác để ở được vào một cõi khác hẳn trần tục, hòa nhập vào cái bản ngã vũ trụ”. Cụm từ ” lên thẳng” và ” đỉnh núi trơ trọi” tách ra ta sẽ thấy rõ hơn về vấn đề này. Lên thẳng là thời khắc chớp nhoáng – như một sát na- Đỉnh trơ trọi là thế giới Không Vô. Một người mà đứng trên đỉnh núi thì không còn sau trước nữa. Đó là thế giới của bốn bề vắng lặng, cô tịch mà người đốn ngộ đã đạt đến. Và Trần Đình Sử cũng cho rằng : ” cõi ấy là một tâm trạng yên lặng, xuất thế, ly khai với mọi biến động của thế gian, hiện tượng, không trước không sau, không đông tây nam bắc gì nữa”. 

Ở câu thơ cuối lại xuất hiện ” hàn thái hư” các tác giả SGK giải thích là ” lạnh cả trời – làm cho cả vũ trụ phải rùng mình ớn lạnh”. Dịch như thế là chưa chính xác. Vì ” thái hư” không phải là bầu trời, mà cõi thái hư là một thế giới của nhà Phật, thế giới ấy chỉ có người đạt đạo mới đến được. Vấn đề này nhắc lại chuyện Lý Tường ( Lý Cao) nghe tiếng cười của sư Duy Nghiễm trên đỉnh núi. 

 Tuyển đắc u cư hiệp dã tình

Chung niên vô tống diệc vô nghinh

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh

Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.

( Chọn nơi vắng vẻ hợp lòng quê / Năm trọn không ai đến hay về / Có khi lên thẳng trên đỉnh núi / Rẽ mây dưới nguyệt tiếng cười hề ) 

Vậy “một tiếng kêu làm lạnh cả cõi thái hư” đó cũng như chuyện bay lên không, đi trên mặt nước, hàng long phục hổ…(có tính chất của Mật Tông). Là trạng thái hòa nhập giữa Ta và Thế giới, giữa Thế giới và Ta, ta và vật đã hòa đồng làm một không còn cái tâm phân biệt nữa. 

Ngôn hoài là một bài thơ thiền không nói về thế giới thực tại, mà mượn những hình ảnh của thực tại để ám thị khai ngộ : chọn nơi thích hợp vắng vẻ để tu tập, từ đó sẽ an tâm với đạo, rồi có lúc sẽ được đốn ngộ, ta và vật sẽ hòa đồng không còn vướng mắc nữa. Đó là chỗ thầy dạy tâm yếu cho đệ tử….Thơ thiền phải đứng trên góc độ của thiền mà giảng thì mới phù hợp. Không thể lấy cái tư tưởng trần tục để giải thích nó. Người học thơ thiền không phải cầu đắc đạo mà là giúp ta tiếp xúc với những giấc mơ giải thoát – thoát ra khỏi biển khổ của thế gian để tâm hồn được thanh thản trong trẻo, giải trừ ác nghiệp.

 

 

ĐÀO THÁI SƠN

3 BÌNH LUẬN

  1. “Nhàn Ngư hay Ngôn Hoài “đều là những bài thơ cổ. Tôi không được học trong thời kỳ mà bài thơ này được đưa vào “Văn học” Tuy nhiên, nếu là có tôi thực sự “Không hiểu nổi .Không biết bài thơ này đưa vào chhương trình Văn Học lớp nào cho phù hợp khi trình độ học sinh chỉ là giới hạn trong ” Quốc ngữ chữ nuớc ta ở bậc “Trung học” Vào thời đó.
    Bài viết trên tôi đã đọc ở trong Văn học Việt Nam hoàn toàn viết như thế. Nhưng cũng
    chỉ là một giã thiết (hoặc là người đời hư cấu) Không khác gì chuyện “Tây Du Ký) Ngay
    truyền thuyết Bồ Đề Dạt Ma qua sông chỉ bằng môt đôi dép cũng vào dạng như thế.
    Van học giã sữ và văn học đích thục không thể nhầm lẫn vào nhau đưọc .
    Giã thiết về Không Lộ rất nhiều bài viết trên thế giiớ ngay NGƯ NHÀN chưa chắc gì là THẬT thì làm sao “NGÔN HOÀI là đúng . Nói về thơ Thiền m àkhông biét rỏ về Thiền một chút. Chính là sự đi dạo chơi “Cởi ngựa xem hoa”.

  2. Bài này tác giả “trích” từ trong Văn học học Phật Giáo Việt Nam và thêm một phần của
    Lĩnh Nam Chích Quái ” Đó chỉ là những giã thiết đưa lên Giữa mấy vị Thiền Sư Đạo Hạnh
    Minh Thông, Không Lộ v.v….
    Hai bài : Ngư Nhàn và ” Ngôn Hoài” cũng có tới 3 giã thiết khác nhau . ý văn tâm đắc
    nhưng trọng minh của Ngôn Hoài và Ngư Nhàn không đơn giản . Lóp 10 học trò chưa hiểu hết văn học hiện đại cũng như cận đại của VN . Ngay cả người “biết viết” Văn học” cũng chưa thấm nhuần đạo lý của đời .. Vậy mà ai đó đưa “nó” vào Văn ” lóp 10 .? Phải chăng
    làm một điều …. khá ngạc nhiên .
    Thơ Đường, thơ “Lục bát” thơ tự do của Việt Nam còn biết bao loại chưa cho học sinh học đủ . Cớ gì đưa một bài thơ mang tính chất ” Phật, Thiền và vô vi vào văn lớp 10 ?.
    Sữ học chính thống khác với giã sữ . Phải không các bạn.

  3. Theo lịch sữ Phật Giáo : Trong nghiên cứu Phật giáo và văn hoá Việt Nam . Câu chuyện Thiền Sư Dương Không Lộ vẫn cón mang tính chất giã thiết .
    @ giã thiết : Dương Không Lộ va Nguyển Minh Thông . Sách vở ghi lại có nhiều điều ngược nhau?. trong lịch sữ về Thiền.
    ” Đoạn luyện thân tâm thủy đắc thanh
    ” Sum sum trực cán đối hư đình
    ” Hữu nhân lai vấn không vuơng pháp
    “Thân tọa bình biên ảnh tập hình .
    Xem xong thì Thiền sư nói :’ Người đem kinh đến…………sao bảo ta không truyền “Tâm Ấn'”
    Tác giả chép bài mà không hiểu hết ý nghĩa .chữ “tâm ấn” nên “cương ” bậy
    Khi một sư muốn nói chữ Tâm ấn hay truyền tâm ấn là phải truyền lại “chưởng môn” cho đệ tử truyền thừa. Ở đây có ngĩa bóng là thế thường kế thừa truyền Y bát và tâm ấn .như Ngủ tổ đã truyền Y bát và bài kệ (Tâm Ấn cho Lục Tổ Huệ Năng chẵng hạn. Trong này ý thiền sư nói theo nghĩa đó.
    Những bức tranh ” Thuỷ Mặc” Sơn Thủy” Phong Thuỷ không liên quan gì đến “Phong Thửy trong dân gian với Thiền cả. Phong Thủy trong nhà cửa thậm chí bí truyền lại càng dựa vào ngủ hành và bát quái thì làm sao có trong Thiền .
    Bài Kệ khác với truyền tâm ấn mặc dầu hai bài là “kệ” . bài thơ : “Ngôn Hoài lại càng không phải hẵn là bài thơ mà cũng chẵng phải toàn là bài kệ. Kệ với thơ hoàn toàn mang tính chất khác nhau .Ở đây tác giả rất lập lờ vì không hiểu mà chỉ dựa vào bài trích nên sai ý lạc đề.

    Lê Tắc chép truyện Không Lộ và Giác Hãi là chuyện giả thiết chưa được hoàn toàn xác thực . đây cũng là chuyện truyền kỳ ” Trong truyền kỳ mạn lục’ cũng như chuyện lịch sữ ” Phù Đổng Thiên Vương ” Người viết lấy cái TÂM” để diển giải cho cái TRÍ và cái LÝ . Cũng như ý thức trong thơ ” Lý Ngạo Đời”của Kha Tiệm Ly.
    Nó không thật là nhu thế .Cho nên Thiền của các SƯ mà có nói tới ằng vân giá vũ . Đi mây về gío bắt cọp, vẻ Voi thì nó cũng chỉ là chuynệ ngoại cở trong Thiền . Không có thật.
    Nếu mà thiên hạ luyện được “chưởng” như trong truyện của Kim Dung . Thì Nga Mỹ cần gì phải tốn công nghiên cứu khoa học phát minh Phi thuyền, hỏa tiển, bom hạt nhân.
    Tác giả trích, chép mà thiếu khâu bình luận rỏ ràng cho nênbiến bài thành một ông ĐỒ Mặc quần ta đi giày Tây thắt cà vạt. Đội khăn đóng đi giữa phố không người.

    Ghi chú : Lê Mạnh Thát : Lịch sữ Phật Giáo ( Nguyên là gốc thiền sư )
    Nguyển Lang VNP,Giáo
    Đại Việt Sữ ký toàn thư
    Lĩnh Nam chích quái
    Lê Xuân Quang .
    ” Đều là những người hoặc nơi có bài viết về Dương Không Lộ. Nhưng chưa có nơi đâu dứt khoát . Hà cớ gì ai đó lại đưa bài “thơ ” Ngôn Hoài đi vào van học VN cho lớp 10 ? Liệu ràng học sinh lớp 10 có bị “Tẩu hỏa nhập ma” khi học và nghe bình giải hay không ?.

Comments are closed.