CỨ VÀO MÙA NƯỚC NỔI – Bút ký La Ngạc Thụy

0
44

 

Nhớ lại, cách nay 3 năm, lúa hè thu Phước Chỉ cứ èo uột thất thu. Là một trong 3 xã cánh Tây huyện Trảng Bàng, người dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp. Vậy mà, bởi địa hình phức tạp, kênh rạch chằng chịt, đất lại thấp, nên hàng năm, cứ vào mùa nước nổi tình hình sản xuất ở đây luôn gặp nhiều khó khăn. Nếu nước lên sớm người dân phải thu hoạch lúa non hoặc chấp nhận thất trắng, khi nước xuống chậm ảnh hưởng vụ sản xuất kế tiếp … nên cuộc sống người dân cứ mãi bấp bênh theo con nước. Không thể chấp nhận cuộc sống cứ mãi lệ thuộc vào mùa nước nổi, Đảng ủy, chính quyền và người dân xã Phước Chỉ đã tạo bước đột phá …

 

Ông Nguyễn Thành Lập Chủ tịch UBND xã Phước Chỉ hồi tưởng: Chuyện lúa cứ thất thu, nhất là vào vụ hè thu, mưa nhiều, nước sông Vàm Cỏ Đông dâng lên, gây ngập úng, nên năm 2000, xã đã đề ra kế hoạch xây dựng thí điểm đê bao ngăn nước nổi tại ấp Phước Long dài 987 mét và rộng 2 mét bằng chính sức lao động của người dân cho 7 ha đất sản xuất gồm 7 hộ 35 nhân khẩu đã đạt được hiệu quả không ngờ…Ông Lập hồi tưởng còn tôi thì liên tưởng theo từng lời nói của ông. Về sản xuất đã chủ động được thời gian xuống giống không còn phụ thuộc vào con nước, đảm bảo 3 vụ sản xuất ổn định, nâng năng suất từ 10 tấn/năm lên 14 tấn/ năm, nâng giá trị tạo ra trên 1 ha từ 13 triệu đồng lên 23 triệu đồng; đặc biệt là tư thương không còn lợi dụng để ép giá. Về chăn nuôi đã phát triển 2 mô hình: nuôi cá trong ao và nuôi cá trên ruộng lúa; tình hình sâu rầy phá hại lúa giảm hẳn, tăng thêm thu nhập từ 3 – 6 triệu/năm nhờ nuôi cá. Từ đó cuộc sống người dân ổn định, thu nhập cao hơn, không còn lo chạy lũ, người dân an tâm hơn trong đầu tư phát triển sản xuất. Chẳng những thế, đê bao còn là hệ thống giao thông nội đồng, biến vùng sông nước thay đổi bộ mặt mới … Chính từ hiệu quả đạt được đó đã thúc đẩy người dân các ấp Phước Trung, Phước Đông, Tràm Cát cùng nhau tự nguyện đóng góp công sức, đất đai đào đấp thêm đê bao nâng tổng số diện tích đất sản xuất nằm trong đê bao lên 206 ha với tổng kinh phí hơn 100 triệu đồng.

 

Khi hiệu quả công trình đê bao phát huy hiệu quả rõ rệt, tỉnh và huyện đã tổ chức đoàn khảo sát, thẩm định và đã đánh giá cao công trình đê bao này đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cuộc sống người dân vùng sông nước. Tỉnh và huyện đã đề ra chủ trương thống nhất hỗ trợ cho công trình theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo tỉ lệ đóng góp: tỉnh hỗ trợ 50%, huyện 20% và người dân 30% kinh phí thực hiện. Thế là công trình được khởi công tiếp tục từ tháng 12.2004 tại ấp Phước Hội với khối lượng đào đấp hơn 41.143 mét khối, tổng kinh phí là 463.298.000 đồng, chưa kể hơn 300 triệu đồng trị giá đất do tuyến đê bao đi qua. Sau đó đã nhân dần ra các ấp khác. Riêng năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008 đã thực hiện 8 công trình đê bao ở các ấp Phước Lập, Phước Đông, Phước Hội với tổng kinh phí là 2,197 tỉ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 659 triệu đồng. Như vậy, sau 8 năm thực hiện công trình “đê bao tiểu vùng kết hợp nuôi trồng thủy sản” ở xã Phước Chỉ với tổng chiều dài hơn 7 km, ngang 10 mét, người dân tự nguyện hiến đất để đào đấp đê bao không đòi hỏi đền bù lên đến 9 ha, trị giá 1,8 tỷ đồng, chưa kể người dân có diện tích đất nằm trong đê bao đóng góp tiền mặt trị giá 30% tổng giá trị công trình.

 

Ông Lập phấn khởi cho biết thêm: “Hiện nay người dân xã Phước Chỉ không còn tùy thuộc con nước nữa, đã chủ động sản xuất 3 vụ ổn định với hơn 593 ha ở 6 ấp cho 346 hộ. Nhiều hộ đã áp dụng mô hình nuôi cá kết hợp sản xuất lúa nâng cao thu nhập, nâng năng suất lúa từ 4tấn/ha lên 5,5 tấn/ha. Đã thế, nhiều tuyến đê bao trở thành đường giao thông nội đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại và vận chuyển nông sản”.

 

Hướng theo cánh tay chỉ của ông Thi Văn Đơn Phó Chủ tịch UBND xã, cánh đồng ở các ấp Phước Lộc, Phước Trung, Phước Hội, nơi mà trước khi có đê bao, người dân đi lại và vận chuyển nông sản bằng xuồng, chưa bao giờ nghĩ đến việc mua sắm xe máy, mô tô. Vậy mà nay hầu như hộ nào cũng đã có xe, thỉnh thoảng trên tuyến đê bao xuất hiện vài chiếc xe chạy qua cánh đồng lúa hè thu vừa mới thu hoạch xong, có nơi chuẩn bị làm đất cho vụ mới, khói đốt đồng tỏa một màu xám trắng che khuất tầm nhìn. Tùy theo địa thế vùng đất, đồng vốn, đất nhiều hay ít … người dân Phước Chỉ đã chủ động vận dụng nhiều mô hình sản xuất: thuần lúa, lúa – cá, nuôi cá trong ao … mỗi mô hình đều mang lại hiệu quả, trước mắt là ổn định cuộc sống rồi tiến lên khá giàu. Nói theo ông Đơn là như vậy. Nhưng ông Hồ Văn Bớt, một nông dân sản xuất giỏi từ mô hình nuôi cá trong ao, hàng năm lãi từ 20 triệu đồng thì thực tế hơn:

 

           –  Nếu không có đê bao, với diện tích đất ít, chỉ có hơn nửa công đất luôn bị ngập nước, nên gia đình tôi chủ yếu là đi làm thuê. Nay nhờ có đê bao, tôi đã đào 4 ao nuôi cá, thu nhập hàng năm hơn 20 triệu đồng. Vui nhất là có đường đi thuận tiện, không còn chèo xuồng vào mỗi mùa nước nổi nữa.

 

 Nỗi lòng người dân đã rõ với niềm lạc quan trong thực tế. Còn đối với lãnh đạo xã – ông Đơn vẫn tỏ ra băn khoăn:

 

           –  Nếu tính từ năm 1998 đến nay, người dân đã tự nguyện hiến hơn 90 ha đất để làm thủy lợi, giao thông nông thôn và đê bao nâng giá trị đất đai từ vài chục triệu đồng/ ha lên 200 triệu đồng nên người dân sẵn sàng hiến đất, không đòi hỏi đền bù để thực hiện những công trình phúc lợi nhất là khi được tỉnh và huyện hỗ trợ. Qua thực tế cái được thì nhiều, cái mất vẫn không ít. Đối với vùng sông nước nhiều kênh rạch và thường xuyên bị ngập lụt mà có được hệ thống đê bao tiểu vùng là phù hợp với điều kiện sản xuất và chăn nuôi của người dân, được người dân đồng tình làm cho cuộc sống của họ ổn định hơn, đặc biệt là hình thành mạng lưới giao thông nội đồng, xóa dần “ốc đảo”, thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển nông sản, nhất là học sinh đến trường cũng thuận lợi hơn không phải di chuyển bằng xuồng nguy hiểm mỗi khi mùa nước nổi, kéo giảm tình trạng bỏ học cuả học sinh. Thế nhưng khi có đê bao đã hạn chế lượng phù sa do nước lũ mang lại, đất sản xuất giảm độ màu mỡ người dân phải đầu tư phân bón nhiều hơn. Cái được và cái mất luôn tồn tại song song. Đây cũng là nỗi lo của lãnh đạo xã. Chúng tôi đang tìm giải pháp để khắc phục. Trước mắt động viên người dân tăng cường bón phân chuồng, về lâu dài sẽ chuyển đổi cây trồng vật nuôi phù hợp.

 

Nghe ông Đơn bày tỏ nỗi lòng, tôi càng hiểu rõ hơn trách nhiệm của lãnh đạo xã. Chủ trương xây dựng “đê bao tiểu vùng kết hợp nuôi trồng thủy sản” chỉ mới phát huy hiệu quả bước đầu mà lãnh đạo xã đã nhìn về tương lai. Đây không chỉ là nỗi lo của những người có trách nhiệm ở xã mà là trách nhiệm của cả cộng đồng. Vận động người dân thực hiện một chủ trương lớn đã khó, việc phát huy hiệu quả công trình sau khi hoàn thành càng khó hơn. Đặc biệt trong giai đoạn này, Nghị quyết của Đảng “về nông nghiệp, nông thôn, nông dân” đang đòi hỏi mọi người phải “cố công, gắng sức”. Ngồn ngộn công việc đang bày ra. Trách nhiệm đang đè nặng trên vai từng cán bộ, mà nhất là cán bộ một xã cách xa huyện, còn nhiều khó khăn như Phước Chỉ. Tôi càng cảm nhận được những điều trăn trở của ông Đơn. Tôi nghĩ công trình đê bao lớn như thế, mất mát về đất đai và công sức, tiền bạc đóng góp của người dân cũng không ít, đã làm được thì việc vận động người dân thực hiện các bước tiếp theo cũng không khó. Vấn đề là làm thế nào để người dân tin và làm theo chính là giải pháp. Có đi giữa vùng lúa bội thu và tận mắt nhìn những đổi thay của một vùng đất, mới hiểu hết những nổ lực của người dân và lãnh đạo xã. Việc ngăn chặn đất bạc màu chắc chắn sẽ có giải pháp. Cảm nhận trước những gì đã nghe và nhìn cùng với những nổ lực âm thầm mà mãnh liệt của lãnh đạo xã Phước Chỉ qua tiến trình vận động thực hiện đê bao, khiến tôi cảm thấy như trong lòng người dân Phước Chỉ cũng đang trào dâng mãnh liệt về một tương lai xán lạn của vùng đất đang đầy tiềm năng này. Tôi như muốn dang tay giữa buổi trưa nắng nóng trên vùng đê bao “lúa – cá” này để cùng họ bay trên niềm tin ấy: không còn nhọc nhằn vào mỗi mùa nước nổi nữa.

 

                                                                                  LA NGẠC THỤY