Bến quê hương – Truyện vừa La Ngạc Thụy (Chương V)

0
129

 

Chương V

Một

Thua đau trên khắp chiến trường miền Nam, chính quyền Sài Gòn càng lồng lộn tổ chức nhiều đợt hành quân càn quét. Chúng nhận định Chiến khu R – nơi đóng quân của Trung ương cục miền Nam chính là đầu não lãnh đạo cách mạng, tổ chức các cuộc tấn công vào đồn lũy của chúng, nên bằng mọi giá chúng phải triệt tận gốc cơ quan đầu não này. Hàng ngàn tấn bom đạn đã trút xuống, hàng trăm tấn chất độc màu da cam đã rải xuống cánh rừng bạt ngàn…Thời điểm này, theo tin tức tình báo thì Mỹ đang chuẩn bị kế hoạch càn quét diện rộng trên khắp địa bàn với tên gọi “trận càn Đông Dương”.

Và việc gì đến, nó đã đến …

Đó là vào chiều ngày 29 tháng 3 năm 1970 …

Trận càn Đông Dương như những chiếc vòi bạch tuột đã vươn qua suối Mật Cật, tiến tới cửa ngõ của Trung ương cục Miền Nam.

Trước đó Ngân và Hận lại được Trung ương Cục điều động về căn cứ. Để bảo toàn lực lượng, nhất là đội ngũ văn nghệ sĩ – những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa mà vũ khí chiến đấu là ngòi bút, là lời ca tiếng hát … là đội quân không thể thiếu trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ và vô cùng quan trọng này phải được bảo vệ an toàn trong cuộc chống càn.

Dường như, trong quá trình tham gia cách mạng, Ngân có duyên với cánh văn nghệ sĩ. Do trước đây ở cùng Đoàn Văn công giải phóng, nên Ngân và Hận được lệnh chỉ huy đội du kích với nhiệm vụ bảo vệ và đưa Tiểu ban văn nghệ R  rút về phía sau – Căn cứ 2 của Ban đặt ở tận A Long Rết.

Trong Tiểu ban này ngoài những “lão” văn nghệ sĩ như chú Thanh Nha, chú Phạm Ngọc Truyền, cô Ba Thanh Loan, cô Ba Thừa Vĩnh, nghệ sĩ hài Quốc Hoà… còn có cánh văn nghệ sĩ trẻ được trang bị vũ khí tham gia cùng đội bảo vệ dưới quyền chỉ huy của Ngân. Lãnh đạo đoàn văn nghệ sĩ rời cứ là nhà thơ Lê Giang. Điều Ngân không ngờ và tận mắt chứng kiến là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, lúc nào cũng lạc quan và tin tưởng vào thắng lợi sẽ đến, sắp đến dù hiện tại cả đoàn đang được bảo vệ rút về phía sau..

Đêm hành quân chuyển lên Cứ 2, trên đường “Sáu Cầu” mà tai cứ nghe tiếng bom nổ, mắt nhấp nhánh giăng sao bởi những tia chớp lửa của bom B52 rải thảm bên căn cứ cũ ở Suối Cây – Bàu Lùng Tung … Vậy mà, nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà Ngân và đội bảo vệ thường gọi là anh Năm thân thương lúc nào cũng lạc quan:

– Mày bom cứ bom, ta đi cứ đi.

Có lẽ nhờ vậy mà đội bảo vệ của Ngân an tâm và lạc quan theo với quyết tâm “khinh thường cái chết’ thản nhiên “lưng bòng, vai súng” đưa các “lão tướng văn nghệ” hành quân lên Cứ 2 một cách an toàn.

Trong đoàn, sức khoẻ của nhà văn Nguyễn Quang Sáng có lẽ yếu nhất. Không hiểu nhà văn bị bệnh gì, nhưng sau khi được điều trị, tóc giữa đỉnh đầu của nhà văn bạc trắng và dáng đi thì lệ xệ. Ngân cử Hận theo chăm sóc đặc biệt cho nhà văn. Được Hận đỡ đần mang giúp cái ruột tượng gạo và cái bồng chứa đầy bản thảo cùng tăng võng. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng càng lạc quan tếu hơn:

– Được rồi. Tao thảnh thơi rồi, “tụi bây tới đâu tao tới đó”.

Cánh quân văn nghệ sĩ thuộc Tiểu ban Văn nghệ Trung ương Cục gồng gánh nhau tiếp tục lên đường. Gió thu vẫn lảng đảng lay nhẹ cành lá, lả tả lượn lờ bay trước bước đi. Do nhận lệnh chăm sóc đặc biệt cho chú Năm Sáng, nên Hận cứ tò tò theo sau Chú Năm. Hận gọi nhà văn Nguyễn Quang Sáng bằng hai từ thân thương “Chú Năm” suốt chặng đường hành quân. Cứ mỗi lần dừng quân nghỉ chân, Hận lại thấy Chú Năm ngồi bệt xuống bất cứ gốc cây nào mà rễ lồi khỏi mặt đất, lật sổ tay lúc nào cũng kè kè trong túi áo, rồi ghi ghi, chép chép.

 Tò mò, có lần Hận hỏi nhà văn:

– Chú Năm viết gì vậy?

Nhìn vẻ thơ ngây của Hận, nhưng nhà văn Nguyễn Quang Sáng vẫn nhận ra nét dạn dày, phong sương thể hiện rõ trên khuôn mặt trẻ trung của Hận:

– Chú ghi nhật ký Hận ạ! Chú ghi lại tất cả những gì đã trải qua để làm tư liệu sau này đưa vào tác phẩm.

Hận gật gật đầu tỏ ý hiểu.

Cuối cùng tiểu đội bảo vệ của Ngân cũng đưa Tiểu ban văn nghệ R về đến Cứ 2 tại khu rừng Gò Săng Ve, tiếp cận với phum Đôn Ca Đôn bên kia biên giới Campuchia an toàn.

Thế nhưng, mới đến nơi chưa kịp ổn định “nơi nghỉ, chốn viết” cho các cô, các chú văn nghệ sĩ thì khu rừng Gò Săng Ve, từ trước đến nay được coi là yên tĩnh, an toàn bậc nhất đã không còn yên tĩnh nữa rồi. Không phải do đoàn văn nghệ sĩ đến phá tan không khí yên lành vốn có nơi đây mà do tin dữ từ anh Ba Thạnh, Trưởng ban tổ chức Tiểu ban văn nghệ báo cáo lại với đoàn từ bản tin của Đài kỹ thuật báo về cho Cứ 2: “ … Điểm khu vực Gò Săng Ve, từ 12 giờ ngày 01 tháng 4 năm 1970 – là tâm điểm không kích, kể cả của pháo đài bay B52 …”.

Nghe tin, Hận không kềm được buông tiếng chữi:

– “Tổ cha cái thằng Mỹ”.

Nhà thơ Lê Giang nghe tiếng chữi của Hận, chẳng những không quở trách mà ngược lại nhà thơ còn cười híp cả mắt như “khoái” lắm vậy và buông giọng rặt Nam bộ:

– Cái thằng chữi nghe hay quá. Vậy là lũ nó muốn hành xác ta đây. Thôi chẳng cần nghỉ ngơi gì nữa. Lên đường thôi.

Các “lão” văn nghệ sĩ biết tính nhà thơ Lê Giang và nghe giọng điệu của nhà thơ là hiểu đây là lệnh “tếu”, nên thay vì chấp hành mệnh lệnh gấp rút tiếp tục lên đường, nhưng các “lão” lại ngồi phệt xuống, mở bình ton nhẫn nha uống nước. Ngân lúng túng chẳng biết hành động thế nào, thì nhà thơ Lê Giang cười lớn:

– Đồng chí chỉ huy đội bảo vệ sao ngớ người ra thế. Mới chỉ là tin báo thôi mà. Cho các cháu nghỉ ngơi đi. Một tiếng nữa chúng ta lên đường.

Có lẽ, nhờ vậy mà cả đoàn bất ngờ gặp được Đội bảo vệ và vị nữ tướng Nguyễn Thị Định cũng vừa hành quân tới. Cô Ba Định – vị nữ tướng duy nhất, nổi tiếng với nhiều huyền thoại ấy mà thời điểm này ai cũng gọi bằng ba tiếng thận thương và kính trọng. Xung quanh Cô Ba Định luôn lung linh với nhiều huyền thoại. Nếu như ở Tây Ninh phong trào đồng khởi vũ trang với chiến thắng Tua Hai lịch sử, thì ở Bến Tre, phong trào đồng khởi do Cô Ba lãnh đạo, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng sang thế tấn công dẫn đến thắng lợi hoàn toàn và được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tuyên dương : “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ” và giữa năm 1961 Cô Ba được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam với chức danh Bí thư Đảng Đoàn – Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965 Cô Ba được giao chức  vụ Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miền Nam. Những năm qua, Ngân đã nghe nhiều về Cô Ba, nay gặp được đúng là một niềm vinh dự.

Tướng Cô Ba Định rất phúc hậu, nên dù giữ chức vụ Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam nhưng Cô Ba rất nhân ái, rộng lượng và bao dung. Ở trong quân Cô Ba như người chị, người mẹ tận tụy chăm sóc cho bộ đội từ miếng cơm, manh áo, Cô Ba sống chan hòa với mọi người. Trong trận càn của địch mang tên cuộc càn Đông Dương này, chính Cô Ba là người lãnh đạo chống càn cùng với Sư đoàn 9 và lực lượng vũ trang Tây Ninh tìm cách đối phó, bảo vệ lực lượng, bảo vệ căn cứ. Cô Ba đã cùng với Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Huỳnh Tấn Phát tổ chức ngụy trang các kho tàng, phân tán các kho vũ khí lớn, trang bị những vũ khí gọn nhẹ cho các đơn vị vừa bảo toàn vừa tăng cường hỏa lực và tổ chức chiến đấu từng khu vực.

Khi quân Mỹ đổ quân xuống khu vực xóm Giữa gần trường học Lê Thị Riêng cũng là lúc Cô Ba và Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu đoàn quân Dân chính hành quân sơ tán, quân số lên cả ngàn người. Ở cứ chỉ còn lại các đơn vị chiến đấu. Quân Mỹ càn đến đâu luôn gặp đối kháng đến đó. Quân ta dùng chiến thuật đánh mìn và du kích gây cho địch nhiều tổn thất, nên chúng giảm bớt sục sạo mà chỉ cho máy bay B52 liên tục ném bom. Đoàn quân của Cô Ba đến đây thì gặp cánh quân văn nghệ sĩ cũng đang gấp rút chuyển về cứ 2.

Cô Ba Định đưa tay vẫy gọi nhà thơ Lê Giang đến dặn dò một số công việc rồi lại vội vã lên đường thẳng lên hướng Bà Thét, hướng từ Tây Ninh lên phía đông bắc Campuchia.

Nhìn theo đoàn xe đạp của cô Ba khuất hẳn vào rừng cây, nhà thơ Lê Giang quay trở lại. Nhà thơ lại cười híp mắt, cái miệng rộng huỵch, vui vẻ chành ra:

– Cô Ba nói, hai chiến đoàn tăng của địch đã càn đến khu Ka Rết và Mi Mốt rồi. Cánh trái thì bọn Lonnon trước đây co cụm lại, giờ cũng bung ra. Vui chữa! Giặc hai bên, ba phía kềm kẹp lại rồi … Mình đi nữa hén”.

Nhà thơ Lê Giang vẫn thế, vẫn giọng điệu “lạc quan tếu” dù đang trong cảnh ngộ “dầu sôi lửa bỏng”, nhà thơ vẫn phổ biến ngắn gọn, rồi lại cười. Bỗng nhà thơ Lê Giang nhìn quanh, rồi gọi anh Ba Thạnh là người nằm trong cấp ủy của Tiểu ban văn nghệ, lãnh đạo cao nhất trong thời điểm hiện tại đến bên võng nhà thơ để bàn kế hoạch tiếp tục hành quân theo chỉ thị của Cô Ba Định.

Còn đang hoạch định kế hoạch thì phía bên phum Đôn Cà Đôn có một số cán bộ K và dân chúng chạy sang vì bọn lính Lon Non cũng động binh truy lùng ráo riết cán bộ cách mạng K. Bất ngờ và cũng khéo làm sao Ngân được gặp lại cô nữ cán bộ thanh niên Chăm Rưng. Kỷ niệm một thời với cô gái Chăm trong quá trình tập huấn lý luận cách mạng bên nhau do Trung ương Cục tổ chức cho cán bộ tuyên huấn hai nước tại căn cứ, Ngân cứ ngỡ những ngày tháng ấy đã chìm trong góc khuất ký ức nay chợt hiện về. Chăm Rưng với vẻ đẹp mặn mà của cô gái hai dòng máu Chăm và S’tiêng, đôi mắt to, đen láy bên nụ cười mĩm, lẳng lặng nhu mì.

Nếu Ngân không được Chăm Rưng chăm sóc, có lẽ với căn bệnh sốt rét ác tính đã vào giai đoạn cuối mà thuốc chữa chỉ có ký ninh vàng, nên căn bệnh đã quật ngả khi tuổi đời Ngân còn quá trẻ. Căn bệnh quái ác đó không tha bất cứ ai thường xuyên luồn rừng, ngủ võng. Ngân vướng bệnh này khi nào không rõ nên khi đang học tập Ngân trông ngày càng gầy rộc đi, đến mức đi đứng phải có người dìu. Vậy mà với món thuốc gia truyền toàn là rễ và lá cây rừng do cha Chăm Rưng đào và hái trên cánh rừng giáp ranh, gửi sang đã cứu sống Ngân. Chăm Rưng tự tay sắc thuốc, nấu cháo cho Ngân ăn uống, còn dìu đỡ Ngân đi đứng suốt một thời gian dài. Bệnh tình Ngân thuyên giảm nhanh chóng, một phần nhờ thuốc chữa đúng căn, một phần nhờ vào tình cảm tha thiết của Chăm Rưng. Qua những cử chỉ, thái độ chăm sóc Ngân của Chăm Rưng, cả lớp học ai cũng nhận ra tình cảm của đôi trai gái đã luyến lưu. Chính Ngân cũng ngộ nhận, dành cho Chăm Rưng những cử chỉ chăm lo âu yếm của đôi trai gái đang yêu. Không ai tỏ ra phản đối mối tình kết nối hai dân tộc của họ. Hình bóng Lành đôi lúc cũng nhẹ tênh và tan biến trong tâm trí Ngân. May mà trái tình yêu chưa kịp chín mùi, bệnh tình Ngân đã thuyên giảm và thời gian học tập đã hết nên họ đã chia tay nhau chưa kịp thốt lên lời hứa hẹn. Và hình bóng Lành chợt hiện lên đúng lúc xua tan đi cuộc tình vừa chớm nở.

Riêng Chăm Rưng, dù đã phát sinh tình cảm trai gái, nhưng cô vẫn giữ chừng mực trong tình đồng chí giữa hai dân tộc cùng chung lý tưởng cách mạng và Chăm Rưng cũng chưa xác định đó có phải là tình yêu hay không? Nếu có thì cô cũng chưa thể mở lòng vì do còn nhiều ngăn cách. Đặc biệt là rào cản giữa hai dân tộc khó mà hòa hợp nhau, nhất là trong giai đoạn cách mạng đang gặp nhiều khó khăn do Mỹ và chính quyền Sài Gòn cứ liên tục tổ chức hết chiến dịch này sang trận càn khác nhằm truy quét lực lượng cách mạng hai nước ngày càng lớn mạnh mà Tây Ninh là căn cứ địa quan trọng trong suốt quá trình kháng chiến. Giữa ta và bạn luôn hợp rồi tan, vì mỗi bên đều có nhiệm vụ riêng. Do vậy khi chia tay kỷ niệm đó cũng dễ chìm vào ký ức.

Giờ gặp lại nhau Ngân và Chăm Rưng rất vui mừng nhưng chỉ biểu lộ qua ánh mắt và nụ cười. Hoàn cảnh hiện tại không cho phép họ đủ thời gian để hàn huyên, ôn lại kỷ niệm một thời, vì phải gấp rút hành quân. Dù cùng nhau ngược lên hướng Tây Bắc, từ Đầm Be hành quân thẳng qua Đôn Cà Đôn, nhưng ai cũng có nhiệm vụ của riêng mình, nên ngậm ngùi tách nhau. Trước lúc chia tay, Ngân mở tấm choàng bằng vải dù hoa đang choàng trên vai bước đến sau lưng và choàng lên vai Chăm Rưng. Hành động của Ngân quá bất ngờ khiến Chăm Rưng không kịp phản ứng, chỉ quay lại nhìn anh ánh mắt ánh lên lời cảm ơn, nhận tấm choàng dù, rồi lẳng lặng bước lui, tay đưa lên vẫy vẫy chào tạm biệt. Ngân đứng nhìn theo và cũng vẫy tay chào trong thầm lặng … sống thì nhớ, có chết mang theo hình ảnh Chăm Rưng với chiếc áo cộc tay đen, xà rông đậm màu cho tới khi đoàn quân của Chăm Rưng khuất bóng. Đặc biệt là tấm choàng dù hoa như tình yêu của Ngân phủ quanh thân Chăm Rưng như tấm chăn ấm…

Hận nhìn cảnh chia tay trong im lặng của họ, dù không hiểu giữa họ có mối quan hệ thân thiết thế nào, nhưng hành động choàng tấm choàng dù lên vai cô gái Chăm của Ngân đã nói lên tất cả. Vì ai cũng biết tấm choàng bằng vải dù trong chiến tranh, chỉ là mảnh vải dù được cắt ra từ những cánh dù của quân đội Mỹ rồi may lại, nhưng rất nhiều tác dụng với cán bộ cách mạng kháng chiến, luôn xuyên rừng ngủ võng. Tấm choàng dù  hoa dùng để che sương gió, nắng mưa khi hành quân, trở thành tấm đấp ủ ấm khi dừng chân ngủ võng… Cho nên đối với người lính cách mạng còn quý hơn sinh mạng của mình và nếu có tặng chắc chắn chỉ dành tặng cho người mà mình yêu quý nhất.

Rồi Hận chắt lưỡi :

– Tết ! Mình mới được anh tặng món quà quý giá đó.

Hai

Con đường từ Đầm Be đến hồ Chí Phèn, mà đội bảo vệ của Ngân và cánh văn nghệ trẻ gọi đùa thành hồ “Chí Phèo”, phải qua phum Đôn Cà Đôn. Nơi đây bà con dân tộc Khmer trồng dừa nhiều hơn cây thốt nốt truyền thống nên còn gọi là Phum Dừa. Qua phum Dừa chạm ngay ngã ba Bà Thét. Tin báo theo đoàn là trận càn Đông Dương của Mỹ đã mở rộng lên phía Tây Bắc. Chúng quyết triệt hạ bằng được con đường tiếp tế của quân ta từ Campuchia và Lào sang. Hai chiến đoàn tăng pháo Mỹ giăng ngang tuyến đường từ Karết ngược lên Phố, rồi xẻ dọc sang Bà Thét, lực lượng chúng rải dài đến gần thị trấn Suông Chúp thật hùng hậu, được trang bị vũ khí tối tân, khí thế thật hung hăng. Thế nhưng khi đổ quân đến đâu thì bọn chúng “co cụm” lại. Nắm bắt được thế trận tuy dàn trải nhưng “co cụm” tạo nhiều khoảng hở, nên đoàn văn nghệ sĩ được lệnh phân tán mỏng, chờ đêm xuống len lỏi qua các khoảng hở đó để đi qua và vô cùng nguy hiểm nếu bị phát hiện. Do phải phân tán mỏng, đoàn quân trở nên dài “lê thê”, dù quân số chỉ vỏn vẹn bốn mươi người, cắt đường xuyên lên rừng Giá Tỵ, hướng về Bàu Sỏi, Wát Thơ Mây … suốt cả đêm, đến chín giờ hôm sau mới thoát ra khỏi vùng đóng quân của địch. Tưởng đã thoát ra khỏi vùng nguy hiểm, “đoàn quân lê thê” chưa kịp tập trung lại, bụng đói meo, thì nhận được tin địch đã phát hiện và xe tăng địch đã mở mủi đuổi theo.

Mẩu tin thật ngắn gọn và bay cũng thật nhanh từ cuối đoàn quân đến nhà thơ Lê Giang đang dẫn dầu đoàn quân. Nhà thơ Lê Giang chưa kịp ra chỉ thị thì cánh nhà văn Lê Văn Thảo và Nguyễn Chí Hiếu khẩn trương đến báo:

 – Anh Nguyễn Quang Sáng yếu lắm rồi, nếu hành quân hoả tốc, e anh Năm chịu không nổi. Chúng ta tìm cách “võng” ảnh thôi.

Ngân liền đề nghị cho Hận và thêm một văn nghệ sĩ trẻ võng nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Nhà thơ Lê Giang đồng ý dự định phân công thì nhà văn Nguyễn Quang Sáng biết được nhất định không chịu để anh em võng đi. Anh cố lạc quan tếu:

.- Chưa hơn Trường Sơn đâu! Tao còn đi được. Tụi bây cứ lo ruột tượng gạo và bồng bị nè…

Và nhà văn đưa cánh tay trái ôm Hận vào lòng, tay phải cầm cây gậy được chặt ra từ một nhánh cám rừng, nói rành rọt :

– Tao chỉ cần chú cận vệ và cây gậy này, bây đến đâu tao theo kịp đến đó. Đừng lo.

Rồi anh nhìn nhà thơ Lê Giang, sau đó đôi mắt hướng về nhạc sĩ Lư Nhất Vũ. Ngân nhận ra ánh mắt đó ngầm bảo: không nên để nhà thơ Lê Giang bận tâm nhiều đến anh em, vì chị cũng đang đang “bận bịu” với “ông tướng ròm họ Lư” này, cũng đang là bệnh nhân cần sự chăm sóc đặc biệt của chị. Ban đầu thì Ngân không hiểu mối quan hệ này, nhưng sau bao chuyện xảy ra, Ngân mới biết đôi vợ chồng văn nghệ sĩ này thắm thiết nhau đến độ nào. Tính nhà văn Nguyễn Quang Sáng là vậy đó. Khi chưa thật sự ngả quị, anh không cần bất cứ sự dìu đở nào. Chẳng những vậy, anh còn lo cho người khác, đặc biệt là đối với nhạc sĩ Lư Nhất Vũ.

Đoàn vượt qua cánh đồng Bàu Sỏi. Nhìn lại phía sau vẫn còn người thấp thoáng dưới ánh nắng chiều đỏ chói. Bỗng nghe tiếng súng nổ rộ lên phía cuối đoàn quân. Đoàn khẩn trương cố vượt qua khỏi cánh đồng trống trải, vừa cặp sát cánh rừng Cù Đèn thì trinh sát Mặt trận tới báo tin và thúc hối:

– Cố gắng lên các cô chú, anh chị ơi! Cố gắng đi nhanh hơn nữa. Phải đến nơi an toàn trước khi đêm xuống.

Dù thúc hối nhưng giọng các anh thật vui, phấn khởi. Bởi lẽ, cả đoàn đều nắm được thông tin Ban Bảo vệ căn cứ Trung ương cục gồm lực lượng C100, C81 … đã phối hợp với một bộ phận bộ đội Sư đoàn 9 đánh tan tác hơn sáu mươi xe bọc thép M118 và M113 của chốt Karết nống lên chốt chặn. Tin cũng cho biết, chiều và đêm nay tất cả đều phải đặt trong tình trạng cảnh giác, bằng mọi cách để phòng ngừa phi pháo địch. Phi pháo địch nói gọn là thế, nhưng đoàn văn nghệ sĩ và đặc biệt là Đội bảo vệ của Ngân đều hiểu là trận địa pháo bầy và máy bay đánh bom rải thảm xung quanh nơi chúng đang “co cụm” để bảo vệ trận địa chốt chặn của bọn chúng. Do vậy các cánh quân nào đang ở gần trận địa đó phải cấp tốc bằng mọi cách di chuyển càng xa càng tốt trước khi màn đêm buông xuống. Nếu như thế thì thật khó cho “đoàn quân dài lê thê” này. Bởi đầu đoàn thì an toàn, nhưng cuối đoàn thì đang nằm trong khu vực phi pháo địch sẽ dập bất cứ lúc nào. Lệnh truyền từ nhà thơ Lê Giang xuống cuối đoàn: Người khoẻ “võng” người yếu cấp tốc băng đồng hội quân tại bìa rừng. Không hiểu do tin vui từ anh em trinh sát mang đến hay do lệnh khẩn cấp mà sức khoẻ của đoàn quân như tăng lên, kịp hội quân khi màn đêm vừa buông xuống và tiếng phi pháo địch bắt đầu rền vang, nhoáng nhoàng tia chớp phía sau lưng.

Image result for khúc quân hành

Ba

Dù đã thoát ra khỏi tầm phi pháo, nhưng đoàn văn nghệ sĩ vẫn khẩn trương tiếp tục hành quân hướng lên mục tiêu Wat Thơ Mây. Nơi đây huyện bạn phía K đã bố trí tiếp đoàn tại khu chợ nhỏ. Wat Thơ Mây có nghĩa là Chùa Mới cũng là cái tên kinh hoàng cho quân đội Mỹ.

Ngày 18.3.1970, Lon Nol phế truất Hoàng thân Norodom Shihanouk lên cầm quyền dưới sự yểm trợ của người Mỹ nhằm biến Campuchia thành sân sau của họ tại chiến trường Việt Nam. Thế nhưng, chính quyền Lon Nol không thể đối phó với thế lực Khmer Đỏ đang lớn mạnh. Nông Pênh không vững thì chưa thể đập tan được “Đầu não Việt Cộng”. Chính quyền Sài Gòn được chính phủ Mỹ bật đèn xanh, liền tổ chức các cuộc càn quét qui mô sang đất Campuchia.

Đó là những ngày tháng 3 năm 1970 với Chiến dịch “Tìm Diệt”, các chiến đoàn tăng của Tổng trừ bị Phủ Tổng thống do tướng Đỗ Cao Trí điều binh phối thuộc với sư đoàn 18 của tướng Nguyễn Văn Minh đánh thốc lên nhằm xoá sổ “Đầu não Việt Cộng” đang đóng quân phía đông chiến trường Campuchia. Chúng không ngờ, tại đây chúng bị đánh tan tác, tướng Đỗ Cao Trí chết thảm khi máy bay bị trúng đạn cố bay về gần đến sân bay trực thăng Tây Ninh chưa kịp đáp thì đã nổ tung rơi xuống, gần sát dinh Tỉnh trưởng chỉ vài trăm mét.

Wat Thơ Mây – cái tên gợi nhớ đến con đường sỏi đỏ, đổ truông dài len lỏi giữa rừng le xanh thẳm bạt ngàn với những cụm bằng lăng cố vươn lên đón ánh mặt trời để khoe những chùm hoa tím ngát. Muốn ngắm hoa phải ngước cổ lên nhìn. Thỉnh thoảng nghe mấy chú chim hồng hoàng, cao các đậu chót vót cành cao trổ giọng “tố rô, tố rô” gọi bầy. Chúng càng “tố rô” Ngân càng nhớ vùng rừng bao bọc Trảng Tà Xia, Lò Gò… bấy nhiêu. Sao bây giờ nhớ Tây Ninh quá vậy, dù chỉ xa nơi đó không bao nhiêu ngày. Tình quê hương, đất nước càng dậy lên và theo Ngân suốt chặng đường kháng chiến từ ngày thoát ly.

Cuối cùng, Đoàn quân văn nghệ sĩ thuộc Tiểu ban Văn nghệ R cũng đến căn cứ mới. Gọi là căn cứ nhưng chỉ là cánh rừng nằm cách hồ Chí Phèn hai ngày đường, chẳng có hầm hào trú ẩn, thậm chí chưa có chòi trại nào khả dĩ che bớt sương gió cho những người đang ốm đau. Ngày đầu tiên đến cứ đoàn quân mệt lả, chỉ còn sức tìm nhánh cây khô đốt lửa suởi ấm, xua muỗi và treo võng ngã lưng qua đêm, cùng nhau nghe tiếng gió xao động cành lá cây rừng, nghe cả tiếng chân cọp đuổi bắt nai, nai phóng ào qua mấy cánh võng ni – lông của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ, nhà thơ Lê Giang, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn… khiến họ giật mình kêu thét: “cứu, cứu”, và phía vòng ngoài Đội bảo vệ của Ngân cũng bật dậy súng trên tay lên đạn căng mắt trong tư thế sẵn sàng chiến đấu với … thú rừng. Chỉ tội Đội bảo vệ phải chong mắt suốt đêm để ngăn ngừa sự cố.

Để dễ hình dung, con đường từ căn cứ cũ đến căn cứ mới, là con đường nối các địa danh từ Đầm Be, Dung Rạng, Rừng Tre, thị trấn Chơ Long, đầm Phơ Lây Phông, Rừng Dương, thị xã Cần Ché… thuộc Đông Bắc Campuchia. Hồ Chí Phèn nằm chếch về phía trái Đầm Be. Nếu cắt rừng thì đi qua suối Lồ Ô, ra xóm Chàm là đến cửa ngõ đầm hồ Chí Phèn. Mặt đầm rất rộng, nước dưới hồ trong veo. Lúc nào cũng đầy sóng gió và xuồng câu, xuồng giăng lưới… của hơn bốn mươi gia đình bà con Việt Kiều lâu đời sống quanh hồ. Con đường này cũng chính là con đường “tiếp phẩm” của bà con Việt Kiều cho cách mạng. Đoàn văn nghệ sĩ đóng quân nơi đây nếu không có tấm lòng và sự hy sinh của họ đóng góp lương thực, thực phẩm thì đoàn quân chỉ biết viết lách và đàn hát này dựa vào đâu để sống trong những ngày tháng mới chuyển về căn cứ mới chưa kịp sản xuất tăng gia? Thế mới hiểu được tấm lòng của những người dân xa quê luôn hướng về cách mạng với niềm tin sắt đá: đất nước sẽ được độc lập, tự do. Cũng chính từ những tấm lòng đó đã thúc đẩy các chú, các bác và anh chị văn nghệ sĩ sáng tác hăng say hơn, để có những tác phẩm văn học nghệ thuật góp phần động viên bộ đội ta chiến đấu quên mình cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Xin ghi nhận những tấm lòng của gia đình anh Hai Tánh, chị Hai Liễu, chú Sáu Có, chú Ba Gió… và bà con sống quanh hồ.

Hồ Chí Phèn với sóng nước mênh mang, cá tôm đầy rẫy cùng với tấm lòng của bà con Việt Kiều một lòng với cách mạng. Cũng chính nơi này là nơi an dưỡng cho các văn nghệ sĩ yếu sức sau những tháng ngày chịu đựng gian lao, lâm bệnh như nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ … và cũng là nơi sáng tác lý tưởng cho những văn nghệ sĩ cần thời gian và yên tĩnh để hoàn thành tác phẩm. Nơi đây, đã đón tiếp hầu như đầy đủ “anh tài” của Tiểu ban văn nghệ R, kể cả nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhà văn Anh Đức, nhà văn Trang Thế Hy, hoạ sĩ Nguyễn Văn Kính…

Suốt những ngày tháng đóng quân ở căn cứ mới, do chưa được lệnh rút về nên Ngân vẫn cho anh em chiến sĩ của Đội bảo vệ vẫn làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vòng ngoài. Trong Ngân đầy ắp kỷ niệm với những văn nghệ sĩ cách mạng. Hận thì trở thành vệ sĩ riêng cho nhà văn Nguyễn Quang Sáng lúc nào không rõ. Hận tôn kính Chú Năm Sáng như cha, nên chăm sóc tận tình, không ngại vất vả, trong lúc nhà văn đang gò lưng viết ngày đêm để gấp rút hoàn thành tập truyện ngắn “Bông Cẩm Thạch”. Hận nói với Ngân:

– Em mong ngày Chú Năm hoàn thành tác phẩm quá trời, để đọc xem chú viết gì?.

Ngân đang mong ngóng từng ngày được lệnh trở về Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Ngân nhớ Tây Ninh da diết. Để cho khuây khỏa, ngày nào Ngân cũng “cuốc bộ” ra Đầm hồ. Nếu không cùng đi với hoạ sĩ Nguyễn Chí Hiếu thì cũng đi với chú Ba Thanh Nha… Ra Đầm hồ để thăm các anh chị em văn nghệ sĩ yếu sức nghỉ dưỡng và cũng để chứng kiến cảnh các chú bác, các anh, chị lao động sáng tạo.

Trong khoảng thời gian này, một đợt học tập Nghị quyết về Miền Nam dành cho cán bộ trung cao và văn nghệ sĩ do chú Hai Trinh và chú Trần Bạch Đằng trực tiếp triển khai, quán triệt. Nhờ vậy mà Ngân gặp lại chú Trần Bạch Đằng và hầu hết cán bộ cấp cao của cách mạng cùng văn nghệ sĩ về học Nghị quyết đợt này. Đó là những ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1971. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng buông thỏng một câu đi vào lòng mọi người tham gia khóa học, riêng Ngân thì không thể nào quên tinh thần lạc quan cách mạng trong câu nói:

– Chưa học thấy rãnh rời, học rồi thấy công việc bằng trời, đầu óc tay chân nào viết cho kịp đây!”.

Cuối cùng Đội bảo vệ của Ngân cũng được lệnh hành quân trở về để kịp tham gia chiến dịch mới. Đội bảo vệ của Ngân gồm mười sáu tay súng, ngày đi đêm nghỉ, luồn rừng băng suối gấp rút quay về. Vượt qua biên giới, Ngân mới thấy lòng yên ổn, đất mẹ mới thật sự là quê hương mà Tây Ninh chỉ mới là một bến: Bến quê hương của những người con vì lý do nào đó phải rời xa, có nơi để ngóng về và quay trở lại. Gần một năm theo bảo vệ cho đoàn văn nghệ sĩ, những kỷ niệm vui buồn đã ghi hẳn vào ký ức Ngân. Dù vẫn sống bên những người thân thương cùng nòi giống, nhưng ở trên đất khách nên không thể nào quên được bến quê hương. Cảm giác ly hương đong đầy ký ức Ngân, nên khi nhìn lại dòng sông Tha La đầu nguồn của dòng sông Vàm Cỏ, Ngân nghe mát rượi đôi mắt. Một bến quê khác nằm dọc bên kia dòng rạch Tây Ninh, nơi đó có một bà mẹ già, một người con gái cũng đang mong ngóng tin Ngân từng ngày với tình yêu thương vô bờ. Thật sự những ngày trên đất khách, Ngân nhớ Lành da diết; đặc biệt sau những ngày gặp lại cô gái Chăm Rưng, lòng Ngân cứ rộn lên hình bóng Lành đang vò võ quê nhà. Không biết em có bình yên không? Từ ngày chia tay đến nay Ngân chẳng có tin gì về Lành. Hơn năm năm rồi phải không em!

LNT

(còn tiếp)

 

Xem tiếp<< Bến quê hương – Truyện vừa La Ngạc Thụy (Chương IV)Bến quê hương – Truyện vừa La Ngạc Thụy (Chương VI) >>