Bến Quê Hương – Truyện vừa La Ngạc Thụy (Chương II)

0
109

 

 

Chương II

Một

Điều mà cả Lành và Vân đều không ngờ là tin Ngân đi quân dịch chỉ là cái cớ che mắt chính quyền Sài Gòn. Sự thật là Ngân được tổ chức đưa vào căn cứ Tỉnh ủy Tây Ninh đóng tại rừng Bời Lời. Sau thời gian tập huấn công tác tuyên huấn, Ngân được Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam chú ý vì sự năng nổ và có đầu óc tổ chức của anh, nên đề nghị Tỉnh ủy Tây Ninh cho Ngân chuyển sang Đoàn Văn công giải phóng. Đoàn cần một cán bộ có năng lực tổ chức để điều hành, lên kế hoạch, chuẩn bị nội dung, chương trình biểu diễn khi phục vụ cho đồng bào và chiến sĩ trong vùng giải phóng. Anh Tư Văn Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Tây Ninh đồng ý tạo điều kiện cho Ngân theo đoàn. Ngân thì mới chân ướt chân ráo vào cứ, lãnh đạo phân công thì chỉ biết chấp hành dù Ngân không có năng khiếu về ca hát, biểu diễn.

Buổi chia tay thật xúc động và đầy ắp kỷ niệm mà Ngân không thể nào quên. Đó là bữa tiệc bánh xèo tại nhà má Muời ở Chòm Tre, mãi mãi hằn sâu vào ký ức.

Bữa tiệc thật vui nhộn vì có sự phục vụ của anh chị em Đoàn Văn công giải phóng. Trước khi chia tay, anh Tư Văn đã thay mặt Ban Tuyên huấn dặn dò Ngân:

– Đồng chí Ngân được Ban Tuyên huấn Trung ương Cục điều về Đoàn Văn công giải phóng, không chỉ là niềm vinh dự của riêng đồng chí mà là của toàn Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Tây Ninh. Tôi mong đồng chí nhanh chóng hoà nhập và đạt nhiều thành tích và tiến bộ ở đơn vị mới.

Ngân thật sự xúc động:

– Xin cám ơn chú Tư, con xin hứa hoàn thành tốt những lời dặn dò tâm huyết của chú. Và cũng xin cám ơn má Mười, các anh em đã có mặt trong buổi tiệc chia tay này.

Thoát ly tham gia cách mạng chưa bao lâu, nhưng tình đồng chí, đồng đội đã hằn sau vào ký ức Ngân và chia tay trong lưu luyến.

Ngân từ giả căn cứ Bời Lời, từ đó theo đoàn sang Bến Cát, vượt quốc lộ 13 Phú Giáo về Rừng Le, C300, Bàu Cá Trê, Đồi 800 cuối cùng về C101 đóng quân tại căn cứ R thuộc chiến khu D.

Khi đến nơi Ngân mới biết Chiến khu D là một trong hai căn cứ quan trọng nhất của miền Đông Nam bộ, trải rộng từ triền rừng bạt ngàn nối cao nguyên miền Trung và biên giới Campuchia xuống giáp cận Sài Gòn và những đô thị lớn Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Với địa hình rừng sâu hiểm trở, Chiến khu D là khu căn cứ, nơi trú đóng của lực lượng, kho tàng dự trữ vũ khí, lương thực và phát triển mọi hoạt động của cách mạng miền Nam.

Tại căn cứ, tháng 7 năm 1961, trời cứ mưa sùi sụt, rả rích suốt ngày đêm. Lạnh. Cái lạnh của mưa rừng không đến nổi trùm chăn, nhưng nếu không hoạt động cả người cứ run từng chập. Từ ngày chuyển về Đoàn Văn công, Ngân chưa theo đoàn đi biểu diễn lần nào. Các anh chị em nghệ sĩ thì bận lo tập dượt, bài hát mới, vở mới, Ngân cũng la cà theo học đờn. Ở Đoàn, Ngân thân nhất với anh Văn Bắc, vì cùng trang lứa. Anh Văn Bắc là một nhạc công với ngón đờn kìm không ai sánh kịp. Không hiểu sao Ngân lại “khoái” học đờn kìm hơn các loại nhạc cụ khác. Chắc có lẽ do những giọng hò, điệu lý vang vọng đồng quê mỗi mùa cấy lúa đã ngấm vào tim.

Một công việc hệ trọng đến thật đúng lúc. Chỉ được phổ biến là việc hệ trọng nhưng cụ thể là gì thì không một ai được biết. Một bộ phận lo dựng cứ. Một bộ phận vượt đường rừng, băng suối đi tải gạo, tải máy móc kỹ thuật và con đường đi tải không in dấu chân người.

Ngân cùng đoàn quân cứ đi, đến mỗi bước ngoặc thì “bẻ cò cây” khi đi qua để ghi dấu nhớ đường về. Từ Trạm 1 đến cơ quan Ban Tuyên huấn R phải vượt qua mười quả đồi, bốn con suối dài. Suốt từ tháng 7 đến tháng 10, đoàn quân cứ làm nhiệm vụ dựng cứ và đi tải, tải đủ thứ từ gạo, muối, đường, sữa, thuốc men… cho đến những thiết bị máy móc, xăng dầu. Anh Năm Đen – Trung đội trưởng căn cứ ra lệnh và cả đoàn răm rắp làm theo không một lời thắc mắc, hỏi han vì đó là quân lệnh. Nhưng trong lòng ai cũng đoán già, đoán non rằng sắp có chiến dịch lớn. Đoán thì đoán vậy thôi và thì thầm chuyền tai nhau vì lệnh ban ra thì phải chấp hành triệt để.

Sáng sớm, Đội trưởng Năm Đen tập hợp toàn đoàn dưới gốc cổ thụ, tán cây phủ trùm cả lán trại:

– Từ nay, đoàn ta sẽ thực hiện một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đó là đi tải máy phát điện và xây dựng hội trường Ban Tuyên huấn R. Cánh trẻ, khoẻ mạnh thì đi tải máy móc, đặc biệt là tải máy phát điện, “chiếc máy bự chảng” và phải vượt qua chặng đường vô cùng nguy hiểm và điểm hẹn không phải ở Đất Cuốc, Sông Bé như những đợt trước mà ra tận Tỉnh lộ 14, vượt qua Tân Tịch, Thường Lang… với khoảng thời gian đi là năm ngày đêm, nhưng về thì không thể nói trước được vì phải mang vác nặng nề, nguy hiểm bởi dốc cao, suối sâu. Các đồng chí lớn tuổi, sức yếu thì ở lại căn cứ san nền, đốn cây, tìm bẻ lá Trung quân, đào giao thông hào để xây dựng hội trường. Do vậy anh em chuẩn bị tinh thần để hoàn thành công việc nặng nhọc nhưng vô cùng quan trọng này.

Hội trường thật rộng lớn, chỉ tính riêng mái hội trường phải lợp đến hơn ba mươi ngàn nẹp lá Trung quân. Ngày khánh thành hội trường thật hoành tráng và đông vui, chú Trần Bạch Đằng, hôm nay với tư cách Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương cục miền Nam đứng trước hội trường tuyên bố:

– Kể từ hôm nay, hội trường do công sức của cả tập thể đã không ngại gian lao, vất vả đốn hạ cây rừng để xây dựng. Đặc biệt là đội ngũ xuyên rừng, lội suối tìm bẻ lá Trung quân để lợp mái. Thay mặt Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, tôi đặt tên hội trường của chúng ta là “Hội trường Trung quân”.

Phía dưới, tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô vang lên, kéo dài, nếu không có cái khoát tay của chú Trần Bạch Đằng đề nghị ngừng lại không biết bao giờ mới chấm dứt. Ngân hòa vào niềm vui tột cùng đó với tâm trạng hân hoan.

Chú Trần Bạch Đằng tiếp tục tuyên bố:

– Tôi cũng xin hé lộ cho các đồng chí biết, thời gian qua, chính các đồng chí là những người âm thầm làm nên một chiến công vô cùng to lớn. Những máy móc, thiết bị mà các đồng chí mang vác, chuyển tải chính là những trang thiết bị để xây dựng Đài Phát thanh Giải phóng.

Cả hội trường lại được dịp vỗ tay hoan hô vang dội khắp khu rừng. Trong lòng ai cũng phấn khởi và xúc động tột cùng.

Ngày 23-1-1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam và chỉ định Ban chấp hành gồm tám đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư, được giao nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc kháng chiến toàn miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, là tiếng pháo lệnh cho phong trào Đồng khởi đấu tranh vũ trang – từ đây các cuộc khởi nghĩa từng phần đã chuyển lên thành cuộc chiến tranh cách mạng trên toàn chiến trường miền Nam, mở đầu giai đoạn mới của cách mạng miền Nam anh hùng, nên cường độ chiến tranh ở Tây Ninh ngày càng khốc liệt hơn.

Trong những ngày tháng ở cứ, Ngân được nghe kể hoặc chứng kiến sự hình thành của Trung ương Cục miền Nam tại Chiến khu D, tạo ra một bước ngoặc mới trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân miền Nam. Từ vùng rừng núi Tây Ninh, cán bộ, chiến sĩ của Xứ ủy Nam bộ hành quân vượt rừng, mở đường đến căn cứ Mã Đà thuộc vùng rừng núi Chiến khu D xây dựng căn cứ, đứng chân hoạt động. Với địa thế của vùng rừng núi bạt ngàn, Mã Đà chính thức trở thành căn cứ đầu tiên của Trung ương Cục miền Nam. Tại Mã Đà, ngày 10-10-1961, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất được tổ chức. Hội nghị đã nêu lên mười nhiệm vụ cụ thể đối với các cấp Đảng bộ miền Nam. Việc thành lập Trung ương Cục miền Nam và tổ chức Hội nghị lần thứ nhất đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách về công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang chuyển từ khởi nghĩa vũ trang từng phần sang chiến tranh cách mạng.

Một ngày chủ nhật thật đẹp trời. Dù khuất dưới những tán cây rừng dày đặc, cả căn cứ như vẫn sống dưới ánh nắng rực rỡ, cả đoàn vận chuyển được lệnh tập trung tại hội trường.

Chú Trần Bạch Đằng đứng trước đoàn thông báo:

– Các đồng chí đã chứng kiến và có đồng chí đã tham dự Hội nghị Trung ương Cục lần thứ nhất. Hôm nay đoàn ta sẽ bắt đầu tập dượt chuẩn bị phát sóng thử đài để chào mừng hội nghị thành công tốt đẹp.

Anh em cả đoàn nhảy cởn lên mừng rỡ cùng với tiếng vỗ tay hoan hô kéo dài bất tận tưởng chừng như không bao giờ dứt. Cả cây rừng cũng hớn hở, cành lá xôn xao. Nhưng có một điều làm Ngân không thoả mãn là đài xây dựng ở đâu, vẫn còn là bí mật.

“Đài Phát thanh Giải phóng” ra đời đánh dấu một bước ngoặc lịch sử trong quá trình kháng chiến chống Mỹ. Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam đã có tiếng nói chính thức với bạn bè thế giới.

Ban bệ đài đã cơ cấu tổ chức từ lâu. Nhưng đến khi chú Trần Bạch Đằng công bố danh sách Ngân mới hiểu quá trình chuẩn bị xây dựng đài đã được đề ra từ lúc thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Phát thanh viên với giọng nữ ấm áp của chị Xuân Việt, phụ trách chương trình tiếng Pháp là chú bảy Kỉnh, chú năm Thưởng; tiếng Anh có chú tư Điện, tiếng Hoa có anh Lý Thắng, Ngô Quân… Đoàn Văn công Giải phóng phụ trách chương trình văn nghệ cho đài. Dàn tân nhạc với anh Nguyễn Khánh đàn Accordéon, anh Nguyễn Diệp thổi sáo, anh Phạm Minh Tuấn đàn ghi ta Espanion, chị Vân đàn Violon. Dàn cổ nhạc do chú hai Khánh đàn tranh và cò, anh Phong Quang đàn ghi ta phím lõm, anh Văn Bắc đàn kìm… và Ngân phụ trách lên kế hoạch và nội dung chương trình.

Sau thời gian tập dượt trong tinh thần trách nhiệm cao, cả đoàn hoàn thành chương trình phát sóng thử. Thật hồi hộp trong ngày bấm máy thu với chiếc ghi âm hiệu Hốt-nơ và chú Nguyễn Văn Hiếu tự Tư Châu,  thiếm tư Mã Thị Chu trực tiếp ghi âm.

Những buổi tập dượt chương trình văn nghệ phục vụ đài với những bài hát, điệu đờn không thể nào quên và ghi mãi trong ký ức Ngân. Tân nhạc với bản “Nhà Việt Nam sáng trưng Á Đông”, “Bốn ngàn năm đó”, “Chàng đi theo nước”…. Cổ nhạc với các bài “Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời”, “Bá Nha ngộ Tử Kỳ”. Truyện đọc thì do chú Trần Bạch Đằng chọn đọc trích đoạn “Võ Tòng đả hổ trên đồi Cảnh Dương”…Nội dung chương trình văn nghệ “vô thưởng, vô phạt” với mục đích đánh lừa địch không thể biết do đài nào phát và ở đâu, của ai?

Một kỷ niệm còn ghi mãi dấu ấn trong lòng Ngân là khi anh Hoàng Phương ca bài “Mặt trận Dân tộc giải phóng ra đời” của nhạc sĩ Xuân Hồng được chú Lý Văn Sâm chuyển sang cổ nhạc lúc dây thấp, lúc dây cao khiến người ca “trật tới, trật lui” và chú tư Châu thu âm suốt cả ngày “xệ cả mắt kiếng”. Đặc biệt là tên tác giả bản nhạc “Giải phóng miền Nam” – bản nhạc hiệu đài của chú Lưu Hữu Phước, khi gởi về đài chú ký tên là Huỳnh Minh Liêng. Thế nhưng do kỹ thuật in bột thời bấy giờ, khi in bị lem biến chữ L hoa thành chữ S hoa, nên tên Liêng biến thành tên Siêng. Sau đó dự định sửa lại cho đúng, nhưng chú Lưu Hữu Phước bảo: “Không cần” và kể từ đó bản nhạc mang tên tác giả là Huỳnh Minh Siêng.

Đài Phát thanh Giải phóng do kỹ sư Tám Thắng phụ trách sắp phát sóng. Trên dốc đồi thoai thoải là dảy nhà của biên tập đài lợp lá Trung quân nép bên hàng bằng lăng nở tím, mọi người đang  “túm tụm” bên nhau, hồi hộp chờ nghe đài phát sóng lần đầu tiên. Chú Trần Bạch Đằng, chú Tư Châu, chú Bảy Kỉnh, chú Lý Văn Sâm, chú Năm Thưởng, chú Tư Điện, anh Bảy Nhỏ, anh Năm Cảnh, anh Lang, cô Ngọc Anh, anh Phan Thế, anh Phạm Minh Tuấn, anh Văn Bắc… ai cũng hồi hộp trong không khí chờ nghe thật tĩnh lặng, thời gian dường như chững lại, chìm đi, tất cả cùng yên lặng đến khó thở… và bầu không khí tĩnh lặng đó bỗng oà vỡ, nổ tung khi tiếng chị Xuân Việt vang lên câu đầu tiên phát ra từ đài:

– Đây là Đài Phát thanh Giải phóng – Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam…

Không gian chợt lặng đi, yên ắng. Ngân đưa mắt nhìn quanh, gương mặt người nào cũng thật rạng rỡ, nhưng đôi mắt thì ngân ngấn lệ. Niềm hạnh phúc lan toả nhanh chóng, thấm sâu vào tận cùng ký ức những người có mặt và Ngân chắc chắn không ai hạnh phúc hơn những người suốt tháng năm qua, âm thầm, lặng lẽ, chuyển tải thiết bị, máy móc, tập dượt, dựng chương trình với bao gian khổ để hôm nay chỉ cần nghe câu “Đây là Đài Phát thanh Giải phóng – Tiếng nói …” là quên hết mọi khổ ải, gian truân.

Đúng là tiếng nói của cả một dân tộc đã vang lên, bay vào không gian đến tận mọi tầng lớp nhân dân. Trong không khí im ắng đó, bỗng chú Trần Bạch Đằng, chú Tư Châu, chú Lý Văn Sâm cùng vỗ tay rồi ôm nhau vui mừng reo lên:

– Cà Mau bắt được đài rồi! Vùng đất tận cùng Tổ quốc đã bắt được đài rồi! Hoan hô, hoan hô….

Chú Bảy Kỉnh từ bên ngoài cũng chạy vào báo tin:

– Khu 6, Bác Ái, Bình Thuận bắt được sóng rồi! Rõ lắm, rõ lắm…

Anh em văn nghệ sĩ, cả cơ quan Ban Tuyên huấn R như chợt tỉnh, biểu lộ niềm vui càng sống động hơn. Mọi người cùng bá vai nhau, bắt tay giật giật cùng la ó:

– Có đài rồi! Đài Phát thanh Giải phóng đã chính thức ra đời rồi!

Không nỗi mừng vui nào hơn khi Cách mạng miền Nam đã có tiếng nói chính thức trên diễn đàn chính trị. Có điều để tiếng nói đó mãi mãi vang vọng, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta với những tin chiến thắng khắp miền Nam và những lời ca, tiếng hát thúc giục lòng quân … Trung ương Cục miền Nam quyết định chuyển căn cứ từ Mã Đà về Bắc Tây Ninh. Trung ương Cục chuyển đi, Đài Phát thanh, một bộ phận không thể tách rời cũng phải chuyển theo.

Cuối tháng 12 năm 1961, cả Ban Tuyên huấn R đang treo võng nghỉ ngơi sau một ngày lao động tập dượt, lên chương trình cho đài thì Ngân nhận được lệnh lên gặp lãnh đạo Ban Tuyên huấn. Anh Năm Cảnh thay mặt Văn phòng Ban Tuyên huấn báo với Ngân:

– Đồng chí về lên kế hoạch chuẩn bị chuyến hành quân xa. Đồng chí sắp xếp cho các đồng chí lớn tuổi, sức khỏe yếu lên đường trước. Các anh em trẻ, khỏe chuẩn bị tinh thần mang vác, chúng ta sẽ chuyển đài đến cứ mới. Lần hành quân này rất gian khổ, nặng nhọc, các đồng chí phải chuẩn bị tinh thần với quyết tâm thật cao.

Ngân trở về tập họp Đoàn Văn công vào lán trại, phổ biến chỉ đạo của Ban Tuyên huấn R. Rồi Ngân phân công cụ thể từng người. Sau đó tổ chức ca hát liên quan – đêm cuối cùng trong khu rừng Mã Đà nhiều dấu ấn kỷ niệm.

Sáng sớm, lệnh hành quân bắt đầu. Máy móc, thiết bị đài được tháo rã ra từng bộ phận từ những ngày trước… Mỗi người một bộ phận hoặc vác hoặc khiêng tất cả đều trên đôi vai chiến sĩ đoàn Văn công Giải phóng, thay phiên nhau hành quân cả ngày và đêm. Anh Văn Bắc ghi nhật ký bằng thơ trong sổ tay hành quân:

“Khi xuống vực – hai khiêng hai đỡ.

Lúc lên đèo hai đẩy hai khiêng.

Đói lòng ăn nửa vắt cơm.

Uống bụm nước suối … ngày đêm dặm dài”

Đó là những nỗi gian nan, vất vả của đoàn văn công được cô đọng lại thành bài hát và theo đoàn ruổi dong vạn lý. Nếu không trực tiếp vận chuyển cùng đoàn thì không thể nào hình dung được cảnh “hai khiêng hai đỡ” và “hai đẩy hai khiêng” gian nan và nguy hiểm đến mức nào, thật cẩn trọng trong từng thao tác, chỉ một sai sót nhỏ thì cả người và thiết bị sẽ rơi xuống vực sâu.

Sau hai ngày đêm đoàn vận chuyển mới tới mép sông Mã Đà. Trong nhật ký vạn lý của anh Văn Bắc tiếp tục ghi:

“Sông Mã Đà nước sông cuồn cuộn.

Vực bờ sâu, lên xuống khổ thay!

Cưa cây dầu bóng ngã dài.

Bấm chân đòn nặng…. lần hồi bước qua”

Những địa danh trên đường vạn lý nào Rừng Vắt, lộ Mã Đà, đồi Thao Lao, sông Rạt, cầu Mây… lần lượt qua đôi chân của từng chiến sĩ suốt mười hai ngày đêm mới đến địa phận Phú Giáo, chuẩn bị vượt lộ 13 Chơn Thành, Xa Cam, Xa Cát. Lại là những:

“Đường ta qua không một dấu chân người

Chỉ có chim bù chao đón chào ca hát”.

Ca hát cái nỗi gì! Ở rừng, mỗi khi nghe tiếng chim bù chao ong óng là ai cũng sợ “lũ biệt kích” đánh lén. Vậy mà anh Văn Bắc vẫn lạc quan tếu. Thời điểm này, bộ đội địa phương Chơn Thành đã đánh đồn Nguyễn Đình Quát, diệt ác phá kiềm, bao vây đồn bót mở rộng vùng giải phóng. Công nhân đồn điền cao su Xa Cam, Xa Cát, Hớn Quản, Lộc Ninh cũng dấy lên phong trào dân chủ, dân sinh… Bọn tề nguỵ ở dọc lộ 13 hoang mang như gà mắc tóc. Lộ 13 không lúc nào vắng bóng lữ đoàn dù tuần tiểu trong tâm trạng lo sợ, dáo dác dòm ngó…

Rồi thì đại bộ phận cánh quân cũng vượt lộ an toàn và dừng dưỡng quân ba ngày tại bên kia Đồng Dầu, dọc Suối Le.

Càng về gần Tây Ninh, lòng Ngân càng nao nao đến lạ. Lại ngủ đêm Minh Thạnh, Cần Lê. Lại gió xuân đêm hai mươi ba Tết. Lại hành quân hăm hở đường về. Đất Tây Ninh kia rồi. Bến quê hương kia rồi. Ngân nghe rõ tiếng anh Năm Cảnh, anh Sáu Huyện tươi cười nói với nhau:

– Phải qua sông Sài Gòn mới thật sự là đất Tây Ninh.

Lại nghe anh Văn Bắc ngâm giọng hoan ca:

“Sông Sài Gòn… phía thượng nguồn

Lòng sông hẹp, quanh co nước xiết…”

Trời hởi… Tây Ninh đây sao? Bến quê hương của Ngân…của những con người bao nhiêu năm qua xa quê. Kia là Con rạch Cả Cùng, đồng cỏ Lộc Ninh, Trảng Mai, và bên này là rừng Nhàu, sa Ông Chắc… Đã ba mươi Tết, dù có phấn đấu thế nào cũng không về căn cứ được trước Tết. Con lộ đỏ Bàu Cỏ nham nhở  sỏi đá áng ngữ trước mặt với mấy đồn địa phương quân Khê Đon, Bàu Bắc kia rồi.             Ngân ngước nhìn bầu trời Tây Ninh đúng vào đêm ba mươi Tết đầy sao sáng. Nhìn dọc hướng về xóm nhà dân, đèn sáng đỏ từ lâu. Pháo tết nổ ì đùng. Bọn nghĩa quân  cũng bắn súng đì đùng, lẹt đẹt vài loạt carbine…

Qua lộ nửa đêm. Anh Tư Minh Trưởng đoàn vận chuyển cho dừng quân nghỉ tạm. Anh đến tổ khiêng máy số 9 của Ngân:

–   Đi bây, theo tao ba đứa!

Ngân ngạc nhiên hỏi.

–   Đi đâu anh Tư?

–  Quay lại ghé quán bên đường hồi nãy đó, mua ít bánh kẹo…

Ngân vở lẽ, ồ lên:

–  Trời đất, thủ trưởng tâm lý quá…

Anh Tư Minh lộ hẳn niềm vui trên mặt:

–  Bao xa mà trời với đất! Đi!

Thế là Ngân, anh Văn Bắc, anh Phạm Minh Tuấn còn trẻ xung phong theo anh Tư Minh. Dọc đường, anh Tư Minh nói:

– Một lát hội quân ở Giếng Thí, gần lộ ủi Trần Lệ Xuân, cánh quân mình có bánh kẹo mà đón giao thừa!

Quán tạp hoá bên đường cũng đang lăng xăng đón Tết. Thấy chúng tôi bà chủ quán bật kêu lên:

– Trời đất. Mấy ông Mặt trận hả!

Anh Tư Minh điềm nhiên:

– Tụi cháu ghé quán mua ít bánh kẹo về cùng anh em đón giao thừa.

Bà chủ quán tốt bụng nhất định tặng cho chúng tôi mấy bịch bánh ngọt, kẹo đậu, kẹo lẻ…không lấy tiền.

Cô gái con bà chủ quán mặc áo vàng lốm đốm bông xanh, tay phùng, lấp ló sau lưng e dè hỏi:

– Mấy ông Việt Cộng hả má?

Bà chủ quán kín đáo đánh đét vào mông cô gái một phát:

–  Nhỏ khùng! Mấy anh Mặt trận, chớ Việt Cộng nào!

Anh Tư Minh cười cười, không buồn giải thích về sự vô tư hiểu về cách mạng chưa đến nơi đến chốn của người dân sống vùng ven. Anh móc tiền ước lượng giá bánh kẹo rồi để dằn dưới bọc nhang thơm trên quầy. Xong phất tay kéo đi. Bà chủ quán dù nhất định tặng số bánh kẹo cho “mặt trận” nhưng vì đứa con gái lỡ mồm gọi là “Việt Cộng”, bà đâm hoảng quên mất ý định, bất động nhìn anh Tư Minh lẳng lặng trả tiền, cho đến khi bốn người khuất vào màn đêm. Không khí bên trong quán dường như im lặng hẳn.

Đồng Giếng Thí, rừng Trâm Sừng là vạt rừng thưa, trảng trống nên đầy sao sáng đón mừng buổi hội quân đón giao thừa. Bếp than đỏ lửa nấu nước pha trà, hâm nóng thức ăn trông thật vui mắt. Đúng là vui, về gần tới cứ rồi, không vui sao được. Cả đoàn quân vui tết giữa đồng trảng Tây Ninh, chắc không ai chạnh lòng bằng anh Văn Bắc:

Xuân sáu mốt trốn chui, trốn nhủi

Tết sáu hai Giếng Thí, Trâm Sừng

Mới đó – từ Mã Đà, vạn lý

Nay thì đường Giếng Thí – hành quân!

Hai

Những tháng ngày cứ trôi đi. Lành ngày càng như người mất trí. Trước đó, sau khi ba má Lành chết, Lành đã có biểu hiện như người tâm thần, thỉnh thoảng lang thang mò mẫm đi khắp mọi nơi như người mộng du. Nay dường như ngày càng nặng hơn, khi tin Ngân đi quân dịch và bặt vô âm tín. Chẳng có lời chia tay và cũng chẳng có một lá thư nào gửi cho Lành, dù chỉ đôi dòng báo tin anh vẫn bình an.

Tháng đôi lần, bà Tư nhìn dáng thất thiểu của Lành sau khi lang thang hết đồng ruộng này đến đồng ruộng khác như tìm kiếm gì đó trở về nhà. Bà xót thương cho đứa cháu gái tội nghiệp. Cả cậu mợ ba Tân và bà con hàng xóm cũng cũng chắt lưỡi thầm thương nỗi đau mà Lành đang mang. Lành biết mọi người rất quan tâm đến mình. Nhưng Lành cũng không thể thố lộ nhiệm vụ đặc biệt mà chú Tám Thành – người cùng tải thương với Lành trong đêm đó, mà sau này Lành mới biết chú Tám Thành là bí thư chi bộ xã.

Một buổi tối, chú Tám Thành đến thăm bà ngoại. Sau khi hỏi thăm sức khỏe bà và bàn hươu tán vượn một lúc, chú Tám Thành khều tay Lành và hướng mắt ra phía sau nhà. Lành ngầm hiểu chú Tám Thành muốn nói chuyện riêng với Lành và không muốn cho ngoại biết.

Trời đêm đó mờ mờ sáng nhờ ánh trăng lưỡi liềm soi xuống. Lưỡng lự hồi lâu chú Tám Thành mới mở lời:

– Chú biết sau cái chết thảm của ba má cháu, cháu rất đau khổ. Nhưng đau khổ mãi cũng chẳng ích gì. Chú hỏi thật cháu có căm thù bọn chúng không?

Lành nhìn chú Tám Thành trân trân. Trong lòng Lành đang mang nhiều nỗi thắc mắc. Tại sao chú Tám Thành có mặt trong đội xung kích tải thương, trong lúc chú là một nông dân hiền lành, chơn chất nhất xóm nên được mọi người nể trọng. Nay lại hỏi Lành những câu không bình thường? Chẳng lẽ chú Tám Thành là cán bộ nằm vùng?

– Sao chú hỏi cháu thế? Chú biết rất rõ là cháu đang khổ đau và căm hận lũ người vô lương tâm đã giết hại ba má cháu mà.

– Chú biết chứ vì chú thường xuyên theo dõi cháu từ cái ngày bất hạnh đó. Nhưng chú muốn biết cháu biến nỗi khổ đau và căm hận đó thành hành động cụ thể kia. Chớ không phải là thái độ thẩn thờ lê bước khắp cánh đồng như bao lâu nay.

– Vậy chú muốn cháu làm gì với đôi tay mềm yếu của cô con gái mới tròn hai mươi tuổi.

Chú Tám Thành động viên:

– Cháu không còn nhỏ nữa rồi. Cháu có thể tham gia nhiều việc để trả thù cho ba má cháu.

Lành một lần nữa nhìn thẳng vào chú Tám Thành:

– Chú là cán bộ cách mạng à? Hèn gì!

Chú Tám Thành đưa tay xoa đầu Lành:

– Ừ. Chú là cán bộ cách mạng. Trước mắt cháu chỉ biết vậy thôi, để đảm bảo bí mật. Còn việc gì sau này chú sẽ giao.

Chú Tám Thành bỗng tư lự. Chú đang cân nhắc. Im lặng hồi lâu, cuối cùng chú cũng nói:

– Những tháng ngày qua, thái độ đau khổ, thẩn thờ của cháu vậy mà hay, rất có lợi cho nhiệm vụ của cháu sau này. Cháu cứ tiếp tục những hành động đó, nhưng mỗi tháng vài ba lần thôi để tránh dòm ngó của bọn mật vụ. Cháu nên đi ngày càng xa, đi không cố định nơi nào. Thỉnh thoảng đến thẳng cây cầy xiêng giữa đồng đó, cháu biết không? Có thể khi đến cháu sẽ không gặp ai mà cũng có thể cháu gặp người nào đó. Người ấy sẽ trao nhiệm vụ cho cháu. Mật khẩu nhận người chú sẽ cho cháu biết sau. Trước mắt cứ vậy đã.

Từ đêm đó, Lành rất háo hức. Lành trông chờ từng giây từng phút để được nhận nhiêm vụ. Một nhiệm vụ mà Lành không thể hình dung được là có thể trả thù cho ba má.

Thời gian cứ thế mà trôi đi. Hơn ba tháng sau Lành cũng chưa nhận được chỉ thị nào từ chú Tám Thành. Rồi hơn nửa năm cũng vậy. Lành rất nóng lòng thầm nghĩ: chẳng lẽ các chú bác chưa tin mình? Nghĩ thì nghĩ vậy thôi, chớ Lành cũng chẳng làm gì được. Mỗi lần gặp chú Tám Thành, chú cứ động viên:

– Đừng nóng vội Lành ạ. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc còn dài mà, cháu đừng lo.

Chú Tám Thành thì cứ động viên, Lành thì cứ trông chờ. Lành không thể biết chú Tám Thành càng nóng lòng hơn Lành. Chú sợ lòng nhiệt huyết và ý chí căm thù của Lành dần sẽ nhạt phai. Lúc đó mà muốn hâm nóng trở lại phải mất nhiều công sức và thời gian. Chú đã gặp cấp trên và nhiều lần hối thúc. Nhưng cấp trên vẫn bảo từ từ, không nên gấp.

Trong một buổi họp chi bộ có đồng chí Ba Trân – cán bộ tuyên huấn Huyện ủy về tham dự. Chú Tám Thành đặt thẳng vấn đề:

– Trong giai đoạn này, địch cứ tổ chức truy tìm, lùng sục cán bộ nằm vùng của ta, tìm được một nhân tố cảm tình với cách mạng không phải dễ. Tôi sợ Lành sẽ nguôi ngoai nỗi khổ đau, ý chí cách mạng bị phai mòn, càng khó hơn.

Anh Ba Trân với vẻ mặt điềm đạm, chín chắn tỏ rõ bản lĩnh một cán bộ lãnh đạo. Sau khi lắng nghe hết ý kiến phát biểu của chi bộ xã, Ba Trân mới truyền đạt chỉ thị của Huyện ủy. Sau cùng Ba Trân cũng cho biết ý kiến của cấp trên về trường hợp của Lành.

– Trường hợp của Lành, sau nhiều lần bàn bạc đắn đo, Huyện ủy cũng đã có chủ trương. Thứ nhất, huyện rất mừng khi đồng chí Tám Thành đã động viên Lành chấp nhận tham gia cách mạng. Lành chẳng những có trình độ học vấn cao so với đa số cán bộ của ta hiện nay, lớp kế thừa mà cách mạng rất cần. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh hiện nay của Lành chưa thể cho em thoát ly, vì còn bà ngoại đã ngoài bảy mươi cần phải chăm sóc. Trong điều kiện thời cơ chưa đến, sau chiến dịch công đồn Tua Hai năm 1961, địch lồng lộn tổ chức hành quân càn quét, tận diệt lực lượng cách mạng, đồng thời bọn mật vụ cũng ráo riết lùng sụt tìm diệt cán bộ nằm vùng của ta. Nhất là khi bọn chúng xây dựng ấp chiến lược, cách mạng gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều cán bộ cốt cán của ta đã sa lưới địch. Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện ủy đã chỉ thị cho cán bộ nằm vùng của ta chưa bị lộ, tạm thời ngưng hoạt động để bảo toàn lực lượng. Các cán bộ ít nhiều bị địch nghi ngờ sắp xếp nhanh chóng tạm lánh ra vùng giải phóng. Do vậy, Lành chính là người thay thế hoàn hảo nhất, vì Lành chưa bị địch nghi ngờ. Lành sẽ nhận nhiệm vụ bí mật liên lạc nhận chỉ thị của trên để báo cho chi bộ xã bàn bạc biện pháp đối phó. Đồng chí Tám Thành có trách nhiệm  giao nhiệm vụ cho Lành và chỉ đồng chí mới là người nhận chỉ thị của trên từ Lành. Đặc biệt bí mật quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho Lành, giúp Lành ứng phó với những khó khăn, nguy hiểm có thể xảy ra.

Sau buổi họp mật đó, chi bộ tạm thời ngưng hoạt động. Chú Tám Thành cũng không còn ra mặt trong các biến cố do địch gây ra trên toàn địa bàn xã. Chú thỉnh thoảng gặp Lành qua những lần thăm nhà với tư cách hàng xóm quan tâm nhau lúc tối lửa tắt đèn. Chính bà Tư – ngoại Lành cũng không nghĩ đứa cháu tội nghiệp của mình đang tham gia cách mạng với nhiệm vụ bí mật.

Hàng tháng vài lần Lành đến gốc cây cầy xiêng, trao báo cáo của chi bộ xã đồng thời nhận tài liệu mật hoặc chỉ thị của cấp trên. Để tránh mọi nghi ngờ, Lành đi không theo chu kỳ nào. Có tháng đi hai lần, có tháng không đi lần nào và ngày đi cũng cứ thay đổi luôn. Chỉ duy nhất một điều không thay đổi, đó là đến điểm hẹn đúng vào lúc đã tối trời. Hai người đối diện cũng không nhận rõ mặt nhau, chỉ nhận nhau bằng câu mật khẩu. Cũng có người theo dõi, nhưng khi tận mắt chứng kiến ai cũng bảo Lành bị bệnh thần kinh ngày càng nặng, nên có những đêm thường đi lang thang nói chuyện với ma bên cây cầy xiêng.

Cây cầy xiêng này, trước đây cũng lên thẳng thớm, nằm lọt thỏm trong khu rừng ven làng. Từ ngày xây dựng ấp chiến lược gom dân vào, cánh rừng bị san ủi thành vùng đất hoang, để “Việt Cộng” không còn nơi ẩn núp, trú chân. Cây cầy xiêng sở dĩ còn đứng chỏng chơ vì bên gốc là một hố bom sâu hoắm, nghe nói quả bom chưa nổ nên bọn chúng không dám san ủi. Nhờ vậy mà cây cầy vẫn vươn lên như thách thức với trời cao, dù dáng vẫn nghiêng mãi muôn đời.

 Cũng không rõ từ ngày tháng năm nào, cứ gần đến ngày hẹn, giọng nói ấm áp của anh cán bộ nhận và giao chỉ thị mãi ám ảnh Lành cho đến lúc gặp nhau và suốt cả trên chặng đường về. Cũng có những đêm, Lành mơ hồ tưởng tượng ra gương mặt người ấy, đặc biệt là giọng nói mà Lành tưởng chừng rất quen thân. Và sự tưởng tượng đã tích tụ lại thành nỗi nhớ. Mà nhớ nhất là vào một đêm, người ấy cố tình chạm vào tay Lành kín đáo trao một món quà.

Về nhà, vào khuất hẳn trong buồng ngủ, Lành cẩn thận mở ra. Ồ! Một chiếc lược bằng vỏ trái sáng, trắng loáng. Chắc người ấy chăm chút cưa dũa kỳ công lắm mới được chiếc lược đẹp như thế này.

Sáng nào, trước khi ra ruộng, Lành đều chải tóc cẩn thận với chiếc lược đó. Bà Tư cũng nhận được sự thay đổi đó từ Lành. Một hôm bà Tư bảo:

– Đi ruộng mà sao chải chuốt quá vậy con! Có thằng nào để ý rồi hả?.

Lành bẽn lẽn:

– Ngoại nầy, kỳ!

– Tổ cha bây chớ kỳ! Con gái lớn rồi thì phải lấy chồng chớ. Con cũng lớn rồi. Hai mươi bốn tuổi chớ ít ỏi gì sao?

Khi bà Tư nhắc tuổi, Lành chợt ngẩn ngơ. Chiếc lược cũng có hai mươi bốn răng! Chắc tình cờ thôi. Làm sao người ấy biết tuổi mình chớ?

Những lần gặp gỡ sau, Lành có hỏi, nhưng Lành chỉ nghe tiếng người ấy  cười.

Ba

Mới đó mà đã gần ba năm Lành nhận nhiệm vụ. Ba năm đối với đời người thì quá ngắn, nhưng đối với Lành là cả quảng thời gian dài. Nhờ không ai nghi ngờ, cả những người thân nhất, nên không xảy ra bất cứ sai sót nào dù nhỏ nhất. Đã gần bảy năm từ ngày Ngân bặt tin. Vẫn chưa có tin nào của Ngân. Chú Tám Thành đôi lúc có nhắc đến tên Ngân, nhưng qua thái độ của Lành, chú biết Lành vẫn còn nhớ đến người bạn học cũ cùng quê, nhưng Lành cũng không quan tâm lắm. Có lẽ Lành hận Ngân nhiều hơn là nhớ. Lành hận Ngân vì anh đã đi theo địch, nhất là từ ngày Lành nhận công tác. Trong thâm tâm của Lành, Ngân là kẻ thù không đợi trời chung.

Chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Tin chiến thắng trên khắp các mặt trận toàn miền Nam dồn dập báo về. Địch càng lồng lộn tổ chức nhiều trận càn quét vào lực lượng cách mạng, nhất là trận càn lớn nhất Đông Dương mang tên Johnson City năm 1965. Trong trận này ngoài việc bẻ gảy những đợt tấn công của địch trên chiến trường còn có một chiến công vô cùng oanh liệt trong lòng địch. Đó là chiến công của đồng chí Bảy Lực, được cách mạng gài vào hàng ngũ địch. Bảy Lực đã dùng chính vũ khí của địch bất ngờ từ trong lòng địch nổ súng tiêu diệt năm mươi lính Mỹ, bắn cháy ba xe bọc thép, chiếm một xe bọc thép và tự lái về chiến khu giao cho cách mạng.

Cuối năm 1967, vào một sáng sương mù còn giăng khắp nẻo đường thôn. Lành nhận được lệnh từ chú Tám Thành, gấp rút đến cây cầy xiêng để nhận chỉ thị mới. Lành thật sự ngạc nhiên nên vô cùng lưỡng lự. Sao lại gặp giữa ban ngày? Lệnh của chú Tám Thành quá đột ngột, Lành không thể không nghi ngờ. Lành truy vấn chú Tám nhiều lần và chú Tám vẫn khẳng định đó là quyết định của cấp trên. Lành phân vân mãi, nhưng cuối cùng cũng phải chấp hành mệnh lệnh.

Trên đường đi, thật tình Lành rất hồi hộp, trong đầu luôn hiện lên hình dáng của anh cán bộ mà gần ba năm qua truyền đạt chỉ thị và trao tài liệu mật cho Lành, nhưng không bao giờ lộ mặt. Không hiểu anh mập ốm thế nào? Bao nhiêu tuổi? Trông có đẹp trai không? Với bộ dạng thất thểu và thỉnh thoảng mĩm cười của Lành thật giống với người bị bệnh tâm thần, không ai nghi ngờ gì được. Cứ mãi nghĩ mà Lành đã đến điểm hẹn lúc nào không rõ. Lành cứ thẩn thờ đi vượt qua cây cầy xiêng. Đến chừng nghe tiếng gọi quen thuộc mà Lành nhớ như in không thể lẩn lộn, Lành mới giật mình quay lại.

Lành thật sự sững sốt. Có phải Lành hoa mắt? Lành ngạc nhiên đến bàng hoàng, đứng như trời trồng nhìn anh thanh niên mặc quân phục xanh màu lá hẳn hoi, đầu đội chiếc mũ tai bèo, da mặt sạm nắng đang nhìn Lành cười. Một gương mặt mà bao nhiêu năm qua Lành không thể nào quên trong niềm đau xót và căm giận. Có phải anh đó không Ngân? Đúng là anh rồi. Nhưng sao lại thế được. Ngân nào đang đứng đây và Ngân nào là sĩ quan quân đội Sài Gòn? Lành cơ hồ như mê đi, Lành chực ngả quỵ, nếu anh bộ đội kia không kịp chạy tới đở Lành đứng vững.

– Lành, Lành sao vậy em? Em bệnh à?

Lành dần hồi tỉnh trong vòng tay ấm áp của anh bộ đội. Lành xô anh bộ đội ra đúng tầm nhìn. Lành nhìn trân trối:

– Đúng là Ngân rồi. Anh là Ngân phải không? Anh ác quá!

Ngân nhìn Lành bằng ánh mắt đắm đuối, chờ Lành qua cơn xúc động anh mới dìu Lành ngồi xuống gốc cây cầy xiêng. Ngân nói nhỏ nhẹ:

– Đúng, anh Ngân đây. Lành đừng trách anh nhé vì phải giữ bí mật của tổ chức.

Không kìm nổi nữa, Lành ngã dụi vào ngực Ngân khóc tấm tức. Ngân choàng cánh tay lên lưng Lành giữ yên đó, yên lặng chờ Lành qua cơn xúc động. Khi tiếng khóc của Lành dịu lại, Ngân mới ôn tồn nói:

– Qua chú Tám Thành, anh biết Lành căm giận anh lắm. Nhiều lúc anh  muốn bày tỏ ngọn nguồn mỗi khi gặp em, nhưng vì công tác bí mật không để xảy ra bất cứ sai sót nào, nên anh không thể. Đừng giận Ngân nữa Lành nhé.

Bấy giờ Lành mới thổ lộ tâm sự mình:

            – Nghe tin Ngân đi quân dịch mà còn đi sĩ quan nữa chớ. Lành uất ức vô cùng. Từ uất ức đến căm ghét và cả hận thù. Ngân biết không, suốt bao nhiêu năm qua hình ảnh của Ngân lúc nào cũng là kẻ thù không đội trời chung.

Ngân e dè đưa cánh tay lên vuốt mái tóc dài đen mượt của Lành, rồi cũng bày tỏ nỗi lòng của mình:

– Lành biết không. Lúc nhận nhiệm vụ phải thoát ly vào cứ để tham gia khóa học chính trị, tổ chức đã sắp xếp cho Ngân bằng cách đi quân dịch, vào Trường Sĩ quan Thủ Đức. Để tránh địch nghi ngờ và ảnh hưởng gia đình, Ngân phải tạo sự chú ý là làm đủ hồ sơ, thủ tục để qua mặt chúng. Nhưng trên đường đi đến Nha động viên, ngang qua Trảng Bàng anh được tổ chức đưa vào chiến khu. Đối với bà con làng xóm thì anh thật sự đi quân dịch, nhưng thực tế thì như hôm nay Lành đã biết.

Im lặng hồi lâu như để lắng đọng tâm tư, Ngân mới tiếp tục bày tỏ:

– Ban đầu Ngân cũng bức xúc lắm. Đi làm cách mạng mà phải chấp nhận mang tiếng là kẻ phản bội. Ngân đau khổ lắm chứ. Nhưng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc nên Ngân phải hy sinh. Mấy năm qua, Ngân trải qua nhiều công tác. À, có chuyện này, Lành không thể ngờ được đâu, anh là thành viên của Đoàn Văn công giải phóng đấy nhé. Mà lại là một trong những người xây dựng Đài Phát thanh giải phóng nữa đấy. Giờ thì Lành hiểu cả rồi chứ?

Lành vẫn chưa nguôi nên thắc mắc:

– Vậy là từ trước anh đã là cơ sở cách mạng à?

Ngân gật đầu, dí dỏm:

– Ngân chính là “Việt Cộng” nằm vùng, lãnh đạo học sinh cảm tình với cách mạng ở trường học.

Như chợt nhớ, Lành gặn hỏi :

– Anh là thành viên của Đoàn Văn công giải phóng?

Ngân gật đầu.

– Anh là một trong những người xây dựng Đài Phát thanh giải phóng?

Ngân lại gật đầu.

– Vậy mấy năm qua, anh làm gì ở đây ?

Ngân ngớ người ra :

– À, à… thì anh đã chuyển công tác.

– Xạo. Không ngờ anh xạo quá trời.

– Thật đó. Sau khi chuyển Đài từ căn cứ Mã Đà về Tân Lập, nhiệm vụ anh hoàn thành, Trung ương Cục trả anh về Tỉnh ủy Tây Ninh. Do thiếu cán bộ tuyên huấn, Huyện ủy Châu Thành xin giữ anh lại đây công tác.

Lành vẫn ấm ức:

– Ngân xấu lắm. Sao cả Lành mà Ngân cũng giấu?

Ngân đở cằm Lành lên đối diện vào mắt Ngân:

– Vậy sao bao nhiêu năm qua Lành lại giấu nhiệm vụ mình làm với cả bà ngoại vậy?

Lành đã vui lên:

-Xí, Ngân khác, Lành khác.

Ngân giả bộ ngu ngơ:

– Khác gì nào? Ngân cũng có tay chân, mặt mũi như bao người mà.

Lành rời khỏi lồng ngực Ngân, nhìn thẳng vào đôi mắt Ngân:

– Lành hỏi thật. Bao nhiêu năm qua Ngân có nhớ Lành không?

Ngân chọc:

– Không nhớ!

Có lẽ lòng Lành đang ngập tràn hạnh phúc vì cuộc gặp gỡ bất ngờ này nên Lành mất đi óc tinh tế vốn có, ngỡ Ngân nói thật nên vẻ mặt Lành thoáng chút gợn buồn. Ngân không nhẫn tâm nên không đùa nữa:

– Lành sao vậy. Ngân đùa mà. Thôi cho Ngân xin lỗi. Giờ mình nói chuyện nghiêm chỉnh nhé.

Lành ngúng nguẩy:

– Không chịu. Ngân phải trả lời câu hỏi này nữa. Tại sao chiếc lược có hai mươi bốn chiếc răng? Có phải tượng trưng cho tuổi của Lành không?

Ngân cười:

– Vậy chớ Lành nghĩ sao? Như vậy chứng tỏ lúc nào Ngân cũng nhớ Lành tha thiết. Bao nhiêu nỗi nhớ Ngân đều dồn lên hai mươi bốn chiếc răng lược đấy.

Đột nhiên Ngân yên lặng, một lúc sau mới tiếp tục nói, giọng hơi hờn trách:

– Lành biết không. Lúc Ngân tặng lược cho Lành, Lành không đắn đo mà nhận ngay. Ngân rất xót xa vì nghĩ Lành đã thật sự quên Ngân, đã chấp nhận tình cảm người khác.

Lành ngẩn người. Ừ nhỉ! Tại sao vậy nhỉ? Đã vậy mình còn nâng niu, quí trọng chiếc lược và từng mơ màng nghĩ về người tặng chiếc lược mỗi khi chải tóc. Hành động đó có phải là biểu hiện của tình yêu không? Hôm nay, trên đường đến đây mình cũng nghĩ về người ấy. Mình đã thật sự thay đổi quên hẳn hình bóng của Ngân? Nhưng tại sao khi chính người ấy là Ngân mình lại thật sự xúc động? Linh tính đã báo trước chăng?

Nhìn thái độ ngẩn người và yên lặng của Lành, Ngân cố kìm lòng:

– Vậy đúng là Lành đã quên Ngân? Nhưng thôi. Chuyện đã qua rồi, hoàn cảnh mà. Không thể trách Lành được. Vả lại trước đây mình chưa bao giờ thố lộ tình cảm của nhau.

Lành cũng trải lòng:

– Lành cũng không hiểu sao nữa. Nhưng hiện tại Lành đã yêu Ngân. Yêu thật tâm. Lành mong rằng sau này sẽ lý giải được thái độ đó.

Cây cầy xiêng chỏng trơ như cảm thông cuộc tình của hai người đã buông vài chiếc lá bay lăng quăng chào đón. Cây cầy xiêng là chứng nhân tình yêu đôi trẻ suốt gần ba năm qua.

Ngân nhích dần gần kề bên Lành, choàng tay ôm Lành vào lòng. Giọng Ngân nghiêm chỉnh như sắp nói điều trọng đại:

– Hôm nay, tổ chức cho mình gặp gỡ nhau vì thời cơ đã đến. Chú Tám Thành đã báo cáo với tổ chức về mối quan hệ của mình. Tổ chức muốn khẳng định mình có yêu nhau không? Mà dù yêu hay không yêu để người trong cuộc đều biết để an tâm công tác. Tổ chức không muốn giữa anh và em, đã cùng chung nhau chiến tuyến mà hiểu lầm nhau là không tốt, đặc biệt là bất công với anh và tội nghiệp em. Một điều mấu chốt nhất là thời cơ đã chín mùi. Cách mạng đang chuyển sang giai đoạn mới, sắp bước vào chiến dịch lớn. Anh được tổ chức tăng cường cho một đơn vị bộ đội chính qui, vì anh là người địa phương. Có thể mình phải xa nhau một thời gian. Bao lâu thì chưa biết được.

Lành bấn loạn cả tâm thần. Một phần do Ngân báo tin quá đột ngột. Một phần do mới vừa gặp lại nhau đã nói lời chia tay. Chiến tranh tàn nhẫn thật. Tàn nhẫn cả với những người mới nhận ra tình yêu.

Lành ngồi yên lặng, mắt thăm thẳm dưới hố bom mà ngày tháng, gió mưa chưa kịp san lấp. Đây là bến quê hương của Lành và cũng là bến tình yêu khi cánh tay phải của Ngân choàng lên vai Lành, mấy ngón tay mò mẫm, êm dịu, nhồn nhột vén lại mái tóc Lành phủ lòa xòa xuống trán. Cánh tay trái nâng càm Lành lên, Ngân nói:

– Nhà anh hiện chỉ còn mẹ già cũng như em chỉ còn bà ngoại. Má anh cũng đang mong có đứa con dâu. Nhưng thôi. Chuyện này chưa thể tính được bây giờ. Anh loáng thoáng nghe, có lẽ sẽ tổng tấn công. Anh được bổ sung vào đơn vị bộ đội chủ lực, nên phải đi xa, ở mặt trận khác. Còn em ở nhà nhưng cũng gian nan lắm đấy. Anh nghĩ chiến thắng đã gần kề, hy vọng hòa bình sẽ nhanh chóng lập lại. Em ráng giữ mình và chờ anh về.

Lành nhẹ gật đầu, dựa hẳn vào mình Ngân, mặc kệ cho nắng đã lên cao, cáu gắt đôi mắt, môi hé ra run rẩy đón nhận nụ hôn đầu đời từ Ngân. Hồi lâu, Lành lấy chiếc khăn tay mà cô đã chuẩn bị từ lâu, trao tận tay anh, Lành lí nhí:

– Hôn em rồi thì phải lấy em. Em sẽ chờ anh, dù năm năm hay mười năm. Suốt cả đời người em cũng chờ.

Sau ngày ấy và thêm một đêm chia tay ở bến sông, Ngân đi biền biệt.

(Còn tiếp)

LNT

Xem tiếp<< Bến Quê Hương – Truyện vừa La Ngạc Thụy – NXB Hội Nhà văn 2013 (Chương I)Bến Quê Hương – Truyện vừa La Ngạc Thụy – Chương III >>

Có liên quan