"BẢO TIỀN" CỦA NGUYỄN ÁNH SAU HƠN 200 NĂM … – Trần Minh Tạo

0
83

Bấy giờ, ông lập  bản doanh đầu tiên tại một vùng đất được gọi tên là Nước Xoáy, thuộc xã Long Hưng, huyện Lấp Vò , tỉnh Đồng Tháp ngày nay. Đây là  địa điểm nằm kề  đoạn chính giữa một con sông nhỏ nối liền hai dòng sông Tiền và sông Hậu vào nhau, được gọi là sông SaĐéc. Từ đây, để hình thành thế ỷ giốc  nhằm bảo vệ từ xa khu  bản doanh của mình, Gia Long  đã cho lập thêm hai Bảo, gọi là Bảo Tiền và Bảo Hậu. Bảo Tiền nằm trên một vùng đất có tên là Long Thắng, trước thuộc về huyện  Lấp Vò, nay thuộc về  huyện Lai Vung cùng chung tỉnh Đồng Tháp. Nó có trách nhiệm bố trí bộ binh và thủy binh phòng thủ hướng về mặt sông Tiền .Nó nằm cách bờ phải con sông Tiền uốn lượn quanh co  trước mặt trên dưới 15 km. Còn Bảo Hậu thì nằm trên một vùng đất ngày nay vẫn còn được gọi là Phong Hòa, có trách nhiệm phòng thủ mặt sông Hậu. Nó nằm cách bờ trái sông Hậu chảy cong cong trước mặt một khoảng gần 20 km.    

             Hồi ấy, theo lời truyền lưu của người dân tại đây, những người hầu hết có tổ tiên từng nằm trong lực lượng binh dân của Gia Long thưở xưa, thì Bảo Tiền là một căn cứ quân đội khá rộng lớn. Hình vuông. Nó có tổng diện tích lọt lòng khoảng 40 công đất, tức 40.000 m2. Xung quanh có thành đất cao và dày bao tròn lại. Vòng theo hai phía trong và ngoài dưới chân thành là hai đường hào rất sâu, có chiều rộng khoảng gần 10 m. Đấy chính là nơi mà binh dân của Gia Long thưở ấy đào lấy đất để đắp dựng nên bờ thành. Bấy giờ, ở phía bắc, hướng về sông Tiền, có hai cửa ra vào.Một cửa dành cho bộ binh. Một cửa dành cho thủy binh. Tất nhiên, cách đây trên hai trăm năm, cây cối sầm uất thâm u  luôn che khuất khu vực Bảo Tiền này.

                      Hạ tuần tháng 6 năm 2009 vừa qua, vì tò mò, tôi quyết định băng theo lối mòn ngoằn ngoèo lởm chởm đất mới đào đắp cùng lưa thưa nhà cửa lẹp xẹp đứng nhìn ra một con rạch nhỏ đang đục ngầu phù sa đỏ để tìm về nơi đây sau nhiều năm dự tính không thành. Từ phía xa nhìn tới, khu vực Bảo Tiền ngày nào giờ chỉ còn là một vùng đất đầy cây xanh và cỏ dại phủ trùm . Nó nằm nhô lên giữa bốn bề ruộng lúa đang vào mùa chín hạt vàng bông.Dãy thành đất hình tròn thưở xưa nay chỉ còn lại một vòng đất cao hơn mặt ruộng bình quân gần một  mét. Người dân tại đây nói rằng vòng thành cũ, qua hơn hai trăm năm bỏ hoang , đã bị người ta cào dần đất đi để lấp phẳng lại vòng đường hào nằm phía bên ngoài nhằm có thêm đất trồng lúa .Và chỉ có phía bên ngoài mà thôi. Nghĩa là vòng đường hào phía trong thì vẫn để nguyên tự nhiên như nó từng có. Nhưng lúc tôi có mặt tại đó thì không còn nhìn thấy vòng đường hào tự nhiên  phía trong như người ta từng mô tả nữa. Trước mắt tôi chỉ còn là một vòng mương lõm cạn gần tới mặt , cỏ dại đủ thứ lấp xấp mọc xanh rì phía trên. Là đường trũng nhất, thấp nhất khi so với những khu vực còn lại ở phía trong thành . Vì các khu vực còn lại này, cũng theo người dân nơi đây, thưở xưa, vốn là nền thổ chính của Bảo. Nhưng, hiện nay , theo quan sát của tôi, nó vẫn còn giữ tình trạng  mặt bằng địa diện không hề đều nhau. Hay nói cách khác, trên mặt nền thổ chính này, sau khi  bỏ qua  toàn bộ diện tích vòng đường hào  đã bị biến thành vòng mương cạn ra, vẫn còn ba gò đất  nổi cao lên ở ba phía khác nhau theo hình chân kiềng, chiếm khoảng 3/4 diện tích lòng thành.Tất nhiên là cây cối đủ thứ đang mọc đầy đặc trên đó. Người ta nói rằng, ba gò đất ấy chính là sự biến dạng từ nền đất của ba đồn quân thưở xưa. Một đồn nằm phía Đông của Bảo. Một đồn nằm về hướng Tây-Bắc. Một đồn nằm về hướng Tây-Nam. Tất cả đều nằm trong cái vòng thành như trên đã nói. Có nghĩa là, ở giữa lòng Bảo, từng có ba bộ phận hợp thành. Một, là đường hào . Hai, là đồn: nó được dựng cất trên ba  chân nền đất được đôn đấp cao lên , có lẽ là để tránh nước ngập .Ba, là phần đất chân ruộng , có lẽ vừa làm thủy lộ vào mùa nước nổi vừa làm lục lộ nội bộ vào mùa khô …Theo nhiều tư liệu khác nhau thì bấy giờ căn cứ này do hai chủ và phó tướng  có tên là Hoàng Văn Khánh và Tống Văn Ngạn chỉ huy cùng kiêm luôn các việc hành chính dân sự trong địa hạt của mình  , kể cả khi chính quyền của Nguyễn Lữ còn bao trùm trên khu vực Nam bộ ngày nay…

        Điểm đặc biệt chú ý của tôi trong chuyến về thăm lần này là một cái miếu sơ sài đang tọa lạc tại hướng Đông của Bảo để riêng  thờ vua Gia Long thưở xưa (Dù có thờ kèm, thờ nhờ  thêm bức ảnh của ông Quan Công , một cách không trân trọng,ở một xéo bàn). Nó nằm trên nền vòng thành nhưng nay đã bị cào  phẳng và thấp xuống, chỉ còn cao hơn mặt ruộng chung quanh chút ít như đã nói ở trên.

        Miếu mang dáng dấp thu nhỏ của một ngôi chùa xưa với nền gạch Tàu, mái tole, cột kèo bằng cây gỗ tròn; chỉ có gian thờ cúng là được dừng vách che kín bằng nhiều vật liệu rẻ tiền, nằm xoay mặt về hướng Đông, có buông rèm đỏ nhưng được “thắt eo” về hai phía.Nó có chân nền hình vuông, chiều dài phủ bì mỗi cạnh độ 6m. Tất cả bốn mặt đều có cây to cây nhỏ cùng chen lẫn lưa thưa nhiều loài cỏ dại mọc tràn sau khi chừa lại một lối mòn lờ mờ dẫn sâu vào phía trong hay đi ngược ra ruộng.

        Nếu đứng trước cửa miếu nhìn vào, ngoài bộ lư hương , bình hoa , bát nhang, nhạo rượu, ly uống rượu, hai con Quy bằng gạch nung  cùng một bình đèn dầu ra…thì thấy ngay một bàn thờ nhị cấp khá cao, được phủ trải bên trên bằng một tấm nilong đã bẩn và cũ màu . Phía trên cùng,dựa vào tấm vách lòng sơ sài phía sau là một khung liễn thờ nho nhỏ với mấy dãy chữ Tàu đã lỡ lói mực sơn màu đỏ, chạy dọc từ trên xuống dưới đến độ chữ này đọc được chữ kia thì không. Kế đến, dựa vào chân khung liễn thờ nói trên là ba cái khung bằng gỗ nhỏ khác nhau. Khung bên trái , lấy chuẩn từ ngoài nhìn vào, đựng  bức ảnh chân dung nhìn xéo nghiêng quen thuộc của vua Gia Long ngày trước mà hoàng tộc nhà Nguyễn cũng như sử sách Việt Nam xưa nay  vẫn hay sử dụng , trưng bày. Khung chính giữa, đựng bức hình vua Gia Long mặc hoàng bào, đội mũ, ngồi trên ngai vàng , nhìn thẳng về phía trước , được vẽ và chụp lại ( bằng những đường nét không sinh động và sắc sảo) với dòng ghi chú bằng chữ quốc ngữ như sau, được viết nghiêm chỉnh, ngay ngắn bên dưới bức hình: “Đức thế tổ cao hoàng đế .Vua Gia Long”. Còn khung bên phải thì đặc biệt hơn. Nằm giữa lòng chỉ là một tấm giấy trắng , hơi dày và bóng, có in đôi rồng tươi vui cuộn cỡi  mây trời. Trên nền rồng mây này có in tuần tự , từ trên xuống dưới, các dòng chữ quốc ngữ sau đây, bằng mực đen: Đức thế tổ cao hoàng đế/ húy/ Nguyễn Phúc Ánh/ Niên hiệu: Gia Long/ Ngày sinh:15 tháng giêng Nhâm Ngọ/ (8-2-1762)/ Ngày mất: 19 tháng Chạp Kỹ Mão/ (3-2-1820)/ Thân phụ: Đức hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế/ Nguyễn Phúc Côn/ Thân mẫu: Đức hưng tổ Hiếu Khang hoàng hậu/ Nguyễn Thị Hoàn/L ăng tẩm:Lăng Thiên Thụ/ Định Môn-Hương Thủy. (Theo sách  “Chín đời chúa mười ba đời vua Nguyễn” của Nguyễn Đắc Xuân ấn hành năm 1988 thì thân phụ của vua Gia Long tên họ là Nguyễn Phúc Luân.Tại khung “bài vị” này lại ghi là Nguyễn Phúc Côn. Tra vào mục đế phả của tộc Nguyễn Phước  hiện nay thì “bài vị” này có nội dung thông tin phù hợp hơn).

       Anh Nguyễn Văn Thanh, người dẫn đường, giới thiệu và mời theo cho tôi một người đàn bà tuổi trên bảy chục, tên là Lê Thị Bàng, cũng vốn là mẹ vợ của anh, có gia đình dòng tộc bên chồng ở sát Bảo Tiền này từ nhiều đời qua. Bà Bàng  nói rằng 40 công đất nằm trong Bảo Tiền của Gia Long ngày xưa nay vẫn còn là đất công. Ba nền đồn kết cấu theo hình chân kiềng hiện giờ chính quyền sở tại đã giao cho lực lượng cựu chiến binh tại đây trồng cây gây quỹ. Vào trước năm 1975 thì nó cũng là đất công.Gia tộc bên chồng của bà , chẳng biết từ bao giờ, được phép độc quyền khai thác hoa lợi  lặt vặt bên trên vòng thành cũ của Bảo Tiền này, nhưng chỉ ở phía bờ Đông, mà không bị ai cấm cản. Chẳng những vậy, khi chết, chồng bà còn được đem chôn và xây mã gạch nằm ngay trên vòng thành xưa. Chẳng những vậy, bà và anh Thanh còn tiết lộ rằng bên dưới vòng thành và ba nền đồn quân ngày trước hiện có nhiều lớp mộ hoang vừa chôn vừa vùi  xác người chết chồng chất lên nhau. Đấy là những dân nghèo quanh vùng vốn không có đất hay không có xéo đất nào cao ráo quanh căn hộ của mình. Có cả những người  ở tận nơi xa. Điều này xuất hiện  từ thưở xưa, khi Bảo Tiền  bắt đầu bị  bỏ phế khi nơi đây chiến sự không còn nữa. Nguyên nhân của tình trạng này là do vòng thành và ba nền đồn của Bảo Tiền ngày ấy cũng như bây giờ không bị ngập vào mùa nước nổi mà lại còn là đất công bỏ hoang. Tuy nhiên, bấy giờ, điều  tôi quan tâm hơn không phải là vấn đề này. Tôi muốn biết  ngôi  miếu thờ vua Gia Long hiện nay do ai lập ra và có từ lúc nào . Bà Bàng trả lời rằng theo sự lưu truyền trong gia đình chồng của bà cũng như từ nhiều gia đình tại đây thì miếu này được lập sau loạn Lê Văn Khôi, vào thời vua Minh Mạng, do  tổng đốc tỉnh An Giang bấy giờ là Doãn Uẩn ra lệnh sau khi làng xã bấy giờ bất ngờ phát hiện ra nó rồi bẩm báo lên cho ông.( hồi ấy vùng đất này còn thuộc về tỉnh An Giang). Bà Bàng còn nói thêm rằng , khi  về làm dâu nhà chồng, cách đây trên 50 năm, thì bà đã thấy có miếu rồi nhưng nó cũng đã bị hư nát vài lần theo thời gian. Cái miếu hiện tại là do bà cùng nhiều nông dân xung quanh xúm nhau hùn tiền , hùn công, hùn vật liệu làm lại từ nền cũ  sau khi dở bỏ đi xác miếu cũ cách đây khoảng 20 năm. Bà bảo thêm rằng, hàng năm ,t ới ngày vua Gia Long băng hà, bà con có nhà cửa xung quanh  ưa mang lễ vật ra miếu cúng bái rồi tổ chức ăn uống cùng nhau theo nguyên tắc có ít cúng ít , có nhiều cúng nhiều. Bà còn kể rằng , có năm , có người cúng cả một con heo quay. Trước giải phóng, theo lời bà, con cháu chít chắt và những người có liên quan như thế nào đó  với vua Gia Long ngày trước cũng hay thường về cúng bái rồi chiêu đãi  người dân trong vùng, (Hồi ấy cũng như ngày nay đều  thuộc về ấp Long Định,xã Long Thắng,huyện Lai Vung,cũng là những cái tên mà ngày xưa ,khi còn ở đây,vua Gia Long đã đặt cho). Hai khung  hình và một khung “bài vị”trên bàn thờ như vừa kể ở trên là do vài ba người nào đó trong số này mang tới. Sau giải phóng, con cháu chít chắt của vua Gia Long ít về hơn. Khoảng mấy năm gần đây thì đã khác. Họ thường hay về , kể cả từ các nước phương Tây. Mỗi lần như vậy, họ ưa tổ chức cúng bái khá tươm tất. Chính quyền địa phương không cấm nhưng cũng không bỏ lơ  sự tụ tập đông đúc tại miếu. Hiện nay, theo sự quan sát tại chỗ của tôi, có một “ông từ” đang ở hẳn trong miếu để lo chuyện nhang đèn hương khói ngày đêm cho vua Gia Long thưở xưa. Ông này khoảng trên 60 tuổi, không vợ không con, tên là Nguyễn Văn Ngây. Vì ít nói ít cười trên một khuôn mặt  hiền lành  pha chút đờ đẩn nên người ta còn gọi là “Ông Khùng”. Ông từ đâu tới cũng chẳng ai biết. Nguồn sống hằng ngày của ông từ mấy chục năm qua là do dân làng tại chỗ thay nhau cung cấp. Hôm tôi đến, “ông Khùng” đang ngồi nấu nước để pha trà cho khách uống tại góc trái của nền  “sảnh” trước. Bàn và ghế uống trà được đặt ngay giữa  “sảnh” trái của miếu. Cũng theo sự quan sát trực tiếp của tôi, ông từ ngủ và nghỉ bên “sảnh” phải, vì ở đó  có một chiếc giường tre và kề bên là một cái võng đang trong tư thế mắc tòn ten  trên một khung giá bằng gỗ đã lên màu .

        Tôi hỏi anh Thanh, rằng đứng tại đây thì “đập đá hàn”  nằm trên con rạch Cái Bàng thường được dân gian nhắc tới  là ở về hướng nào. Anh Thanh nói nó nằm ở hướng Bắc của Bảo Tiền nhưng có dòng chảy theo trục Tây –Đông.Ngày xưa, để “đấp mô” ngăn chận đường tiến công  bằng ghe xuồng lớn của thủy binh  Tây Sơn trên con rạch Cái Bàng này, Gia Long đã cho dân binh  chở  đá từ Núi Sam bên Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang ngày nay về để “hàn” lại cả một đoạn rạch có chiều ngang chừng 25 m. Tôi lại hỏi rạch Cái Chanh nằm về hướng nào.Anh Thanh chỉ tay về hướng Đông của Bảo Tiền  nhưng lại nói  rằng nó có dòng chảy lớn ròng theo trục Bắc –Nam .Tôi nói với anh Thanh rằng cặp bên con rạch Cái Chanh ấy,khi Gia Long còn ở tại đây thì đã có một ngôi chùa rất to, dân gian gọi là chùa Cái Chanh hay Cái Cát  nhưng tên chữ của nó là Bửu Hưng. Chùa Bửu Hưng này , theo tự phả, được thành lập vào khoảng hậu bán  thế kỷ 18 với vị sư sáng lập kiêm trụ trì đầu tiên tên là Nguyễn Đăng. Ông Nguyễn Đăng này gốc người miền Trung. Ông tới vùng Long Thắng –Lai Vung ngày nay  lập chùa và tu hành vào thời điểm chúa Trịnh đàng ngoài đã chiếm xong được thủ phủ Thuận Hóa của chúa Nguyễn đàng trong  nhân cơ hội  anh em nhà Tây Sơn ở Bình Định vừa nổi dậy ồ ạt được mấy năm. Không biết trong lúc còn ở khu vực này, với căn cứ  Bảo Tiền chỉ nằm cách chùa 4-5 cây số đường chim bay, Gia Long có được sư Nguyễn Đăng giúp đỡ gì không mà khi về Huế làm hoàng đế  , vào năm 1802, Gia Long có sai người chở một tượng Phật bằng giấy bồi , rất cao to, vào Long Thắng –Lai Vung để kính tặng cho chùa.Tượng Phật này hiện vẫn còn “ngồi” giữa gian chánh điện với nhiều hoành phi đại tự sơn son thếp vàng lộng lẫy và rực rỡ vây quanh. Đây là một trong hai pho tượng Phật giống nhau, làm bằng giấy bồi , mà pho tượng duy nhất còn lại đang nằm trong một ngôi chùa nào đó ở ngoài Huế. Tôi còn nói thêm , hiện nay,pho tượng giấy bồi này đã bị chuột cắn thủng một lỗ gần bằng cái chén ăn chè. Lỗ thủng nằm bên trái và phía sau pho tượng, ngay phần tiếp giáp với tòa hoa sen. Anh Thanh hỏi tôi vì sao mà nắm rành câu chuyện và chi tiết  như vậy. Tôi trả lời rằng tổ tiên ông bà bên  nội của tôi có gốc gác bên con rạch Cái Chanh này. Tôi lại có một người ông rể  ,nghĩa là chồng của bà tôi,  từng là vị sư trụ trì hậu bối của chùa Bửu Hưng  nên tôi  thường được nghe người lớn kể, dù lớp con cháu chúng tôi từ mấy chục năm nay đã phải xiêu dạt khắp nơi do thời cuộc loạn ly vừa qua đến độ cách đây trên 10 năm còn không biết đường về thăm mồ mã ông bà cùng dòng họ bên nội nữa, dù rằng tên đất , tên làng thì vẫn còn nhớ rõ…

         Hôm ấy, trên đường từ Bảo Tiển về, tôi định nhờ anh Thanh dẫn tiếp sang Bảo Hậu nhưng anh bảo rằng anh không thể đi lâu hơn nữa. Vì vậy, lúc đó , tôi lại định một mình tìm đường sang Long Hưng để thăm bản doanh của vua Gia Long thưở xưa, nằm bên con rạch Nước Xoáy có từ hàng trăm năm nay, cách Bảo Tiền khoảng 15 km đường chim bay nhưng cũng không thể đi được vì nắng đã nhạt màu mà đường sá sang đó thì phải qua nhiều đò ngang cách trở, khó khăn.Thành ra, lưỡng lự một hồi, tôi bèn cho xe chạy men theo con rạch Cái Bàng , sau khi chia tay người bạn quen biết chưa lâu của mình. Dọc đường, nằm về phía ruộng, phía vườn, nhà cửa cất thành dãy , chỗ thì lưa thưa chỗ thì san sát  nhau. Chủ yếu là nhà tường mới sơn. Nơi có Đập Đá Hàn ngày xưa chắn ngang con rạch Cái Bàng ăn luồng ra sông Hậu thì nay không còn gì nữa. Tuy nhiên, khi tôi quẹo trái chiếc  xe gắn máy hai bánh của mình vào rạch Hộ Xã Đường, thuộc về xã Hòa Long, một cái tên cũng do vua Gia Long đặt cho ngày trước, thì nghề đan lờ đan lợp bằng nguyên liệu tre trúc của bà con nơi đây, dùng để bắt tôm bắt cá , vẫn còn. Đây là một trong những khu dân cư chuyên nghề lờ lợp truyền đời có nguồn gốc xuất xứ từ các binh sĩ của vua Gia Long khi còn đóng quân ở đây. Ngoài nghề lờ lợp này, có thị trường mua quanh năm ở khắp khu vực miền Tây Nam bộ hiện nay, về phía xã Long Hậu, giáp liền xã Hòa Long, còn có một làng nghề đóng xuồng rất nổi tiếng từ lâu đời. Nổi tiếng nhất là loại xuồng Cui ở rạch Bà Đài.Người ta kể rằng, làng nghề này cũng có nguồn gốc đầu tiên từ những người lính thợ chuyên “lấp vò”ghe xuồng cho lực lượng thủy binh  của Gia Long khi Bảo Tiền, Bảo Hậu cùng bản doanh của vua còn tồn tại ở quanh đây. Có nghĩa là, hồi ấy, sau khi chiến tranh kết thúc, đã có một số lớn người trong họ được giải ngủ. Bấy giờ, trong điều kiện giao thông và liên lạc thời xưa, trong số những người này có một số người  không có khả năng lẫn điều kiện tìm về lại  quê quán cùng thân nhân cũ của mình được nữa, thường là ở tận ngoài miền Trung xa xôi, đất cũ của chúa Nguyễn ngày nào . Họ đành “xin nhận nơi này làm quê hương” để rồi kẻ trước người sau dần dần trở thành con rể tại chỗ. Trong quá trình làm rể , làm chồng và làm cha đó, cái nghề công binh đóng sửa ghe xuồng khi còn làm lính thợ  của họ cũng dần dần chuyển thành nghề dân dụng cho đến hôm nay; kể cả tên gọi một công đoạn thao tác “lấp vò” nằm trong quy trình sửa chửa hay đóng mới xuồng ghe ngày nào  của họ cũng theo đó mà dần dần trở thành tên gọi của một vùng đất, sau thì trở thành tên gọi của một đơn vị hành chánh cấp huyện, là huyện Lấp Vò của tỉnh Đồng Tháp hiện nay, như trên có nhắc tới…

       Hôm đó, trước khi ra khỏi khu vực Bảo Tiền cũ của vương Nguyễn Ánh ngày nào, tôi không quên thắp cho ông một nén nhang. Dù gì là gì trong quan điểm của một số người, với tôi, nếu không có Nguyễn Ánh cùng mấy đời tổ tiên trước đó của ông , kể từ Nguyễn Hoàng trở lại, thì làm gì có cả vùng Nam bộ trù phú , gồm có miền Đông và miền Tây, làm chỗ dựa kinh tế đông dân nhiều của chủ chốt cho cả nước ngày nay về phương diện nội trị xen lẫn với quốc phòng?! Có lẽ vì lý do nội tâm thầm kín này mà cái miếu thờ hoàng đế Gia Long ngày nào , tuy đã trải qua hơn 200 năm nhưng vẫn còn nghi nghút khói hương dù chẳng còn ai cổ súy cho việc cúng bái và tưởng niệm này nữa…

                                      TRẦN MINH TẠO