Viết ở Quảng Trị – Chùm thơ LÊ THIÊN MINH KHOA

1
515

LTMK trước Mả Tổ ở Cồn Tiên: mộ Ông Bà Hoàng thân Lê Duy Cán, vị tiền khai khẩn làng Trung An, Gio Sơn, Gio Linh, Quảng Trị (1510)
 

Viết ở Quảng Trị

 

Đêm khó ngủ
chợp mắt
trời đã sáng
Như chúng mình
vừa chớm
đã chia xa


Mai tiễn nhau đi
chắc trời có nắng
Như tình anh
nhưng anh nghĩ: nắng buồn

 

Như tình anh
chợt trao cho em
Để đổi lấy
một miền thương nhớ


Mai tiễn nhau đi
xin em giữ hộ
Cho riêng anh
chút bỏng gió Lào!
 
Gio Linh – 29.6.06

Cảm xúc Miền Trung

                            
Thơ văn xuôi

 

Dọc theo Miền Trung
Những cánh đồng nhỏ nhoi bởi núi, bởi sông, bởi gò đồi chia cắt. Những mảnh ruộng nát vụn bởi người đông đất hẹp. Những ngôi nhà gầy gộc thấp lùn, cửa cái như lỗ tò vò ngôi miếu cổ, để núp né khó nghèo và bão táp.Và vài túp lều trống trọi giữa đồng không…
Những ngôi mộ bằng cái nón cời thấp thoáng sau hàng dương  bên  cồn đất sỏi. Những dòng sông ngắn ngủi , cạn trơ.  Nhũng cù lao cát vàng mới trồi lên mặt nước. Những đụn cát trắng lấn dần về mé lộ. Những lũy tre xơ xác, những bóng dừa gầy còm, những thân chuối bà hương èo uột…
Đến những cây lúa đang thì cũng gầy guộc như dáng mẹ già đang làm cỏ ruộng tận chân đồi.Và những đòn triêng tre mỏng manh, dẻo dai chịu những gánh hàng rong oằn những bờ vai gầy guộc…

Miền Trung ơi!
Cái chi cũng nhỏ nhắn
Như dải đất hẹp quê mình
Cái đòn gánh dãi dầu mưa nắng…

TX Quảng Trị, 2009
Bà Rịa – 2010

 

 
TỰ TÌNH

 

Đằm thắm
và nồng nàn
Em
và anh
Nhặt lại cái đánh mất
đã lâu rồi!

Sâu lắng
mà mỏng manh
Cứ dự cảm một ngày nuối tiếc
lại đánh rơi!

                    
TX Quảng Trị, 6.2006   
 
 
Ngôi nhà ở Cổ Thành Quảng Trị

Trên đường Trần Hưng Đạo
ngoài chân thành xưa
sót lại một ngôi nhà

 

Ôi! Dấu ấn của một thời khói lửa
thân tường vôi loang lở vết thương
chân cầu thang cong queo, trơ lại khung xương
thịt bê tông rơi dần, lả tả
mắt cửa ô lỗ đáo đen bầm…

Cả ngôi thành xưa
sót lại một một ngôi nhà!…
 

Thạch Hãn- 1976.
 
 
Bãi Cát Phước Sa
 
Trắng xoá cát trước mắt
Chi lạ lòng xót xa
Cỏ mộ sao lướt thướt
Chim rặc rặc (*) tìm chi?
            Gio Linh, 2000.
(*): Rặc rặc (tiếng địa phương): một loài chim sẻ.
 
 
ĐÊM BIÊN GIỚI 

Gió lạnh mưa soi lướt trăng gương
Cây nổi bềnh bồng trên mặt sương
Biên giới im lìm trong giấc ngủ
Một nhánh phong lan thức giữa rừng
                        
Đồn biên phòng Lao Bảo, 1977
                                                 
LÊ THIÊN MINH KHOA

Có liên quan

1 BÌNH LUẬN

  1. Đôi lời đồng cảm cùng bài viết của Châu Thạch

    Anh Châu Thạch quí mến!
    Sáng nay, em đọc bài Phản Biện … của anh. Thấy đồng ý hoàn toàn về lập luận của anh, và thấy không cần phải nói thêm gì với ông Nhì nữa. Thực ra, bài viết của ô Nhì có nhiều “lỗ hỏng” lắm. Chỉ nói với anh về vài “lỗ hỏng” trong bài viết của ông ta:
    1. Thi pháp là một thuật ngữ của một của một ngành học mới_ thi pháp học, một chuyên ngành hẹp của lý luận văn học (và của cả Mỹ học nữa). Là thuật ngữ thì nó có nghĩa khái niệm được chuyên ngành qui ước, không thể tự hiểu tự định nghĩa theo ý hạn hẹp chủ quan mình như Ô Nhì đã phát biểu: ” “Thi pháp (poetics) là phương pháp, quy tắc làm thơ – sử dụng vần, nhịp điệu (và các phương tiện thẩm mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả.” Cách hiểu của Ô Nhì có nhiều cái sai:
    – Trước hết, không nên chiết tự từ (vì thuật ngữ nầy đã có sẵn nghĩa qui ước của thuật ngữ do môn khoa học nầy quy định) mà lại hiểu đơn giản: thi là thơ; pháp là phép, rồi suy ra: thi pháp la quy tắc làm thơ!… Thực ra, thi pháp ngày nay được người có học trong ngành văn chương hiểu như GS-TS Trần Đình Sử, nhà khoa học hàng đầu về Thi pháp học VN trích dẫn định nghĩa của Viacheslav Ivanov: “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ được sử dụng trong đó”. Hiểu như vậy thì Thi pháp (poetics) không chỉ là phương pháp, quy tắc làm thơ mà rộng hơn nữa: quan niệm nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, hình tượng tác giả trong sáng tạo nghệ thuật là bốn vấn đề cốt lõi của tinh thần thi pháp (Theo Đào Thái Sơn – Vài nét về Thi pháp học hiện đại). Còn nữa, đối tượng của thi pháp không chỉ là thể loại thơ (trữ tình) mà còn mở rộng ra các thể loại khác: truyện (tự sự), kịch và ký. Bởi vậy, ngoài kiểu nói: thi pháp Truyện Kiều, thi pháp thơ Tố Hữu…, người ta còn nói: Thi pháp truyện ngắn, thi pháp tiểu thuyết, thi pháp kịch… nữa.
    – Hơn nữa, thi pháp không chỉ là “sử dụng vần, nhịp điệu (và các phương tiện thẩm mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận” chỉ gồm các yếu tố thuần hình thức, như ô Nhì định nghĩa mà thi pháp còn là “khoa học về cấu tạo của tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ được sử dụng trong đó”. Chỉ nói riêng về từ “cấu tạo”: Cấu tạo bao hàm cả yếu tố nội dung: ý, tứ, nghĩa…, chứ không chỉ là hình thức, thủ pháp nghệ thuật thơ ca hoặc “sử dụng vần, nhịp điệu”. Đúng ra phải nói là tính nhạc của thơ, vì nhạc tính của thơ mới bao gồm đủ cả 4 yếu tố: âm (âm đầu, âm chính, âm cuối), thanh, vần, nhịp của thơ, trong đó, thanh (nhóm thanh bằng, nhóm thanh trắc, nhóm thanh cao, nhóm thanh thấp) và nhất là nhịp (tiết tấu) là hai yếu tố quan trọng nhất, thiếu nó văn bản không thể thành thơ, chứ không phải là vần và nhịp như Ô Nhì đã khẳng định trong định nghĩa trên. Chính chúng (thanh và nhịp) đã góp phần làm cho thơ văn xuôi hội đủ điều kiện thành thơ, vì bài thơ có thể không vần, không cần có sự hài âm, nhưng không thể thiếu yếu tố hài thanh và tiết tấu…….
    2. Lại nữa, Ô Nhì viết: ” Dòng chảy của tứ thơ: Bài thơ gồm 6 đoạn, mỗi đoạn 4 câu diễn tả một ý riêng biệt; từ đoạn trước sang đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không có dòng chảy”. Như thế, rõ ràng là: ô Nhì chưa nắm rõ về khái niệm ‘tứ thơ”. Cũng đúng thôi, vì “Tứ thơ là một khái niệm có vẻ rất khái quát và trừu tượng nên rất khó diễn giải… “Tứ thơ” được hiểu như là một phương thức nào đó để tổ chức liên kết các ý trong bài thơ và hệ thống các ý đó với “tình” của nhà thơ và biểu hiện chúng bằng yếu tố ngôn ngữ (từ). Cả ba yếu tố đó tổng hòa trong một thể thống nhất gọi là bài thơ – tác phẩm. Như thế, chất trí tuệ, năng lực hư cấu văn học và trí tưởng tượng của nhà thơ được vận dụng hết công suất để xây dựng tứ thơ mà giới chuyên ngành gọi là “cấu tứ”. Chính tứ thơ làm cho văn bản trở thành bài thơ, là yếu tố không thể thiếu của một bài thơ, nhất là thơ hiện đại”. (LTMK_ Lại Nghĩ Về Thơ_ tuần báo Văn Nghệ số 5, 03.02.2018). Như thế, tứ thơ không phải do vần mà có, như Ô Nhì đã tưởng và viết : “từ đoạn trước sang đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không có dòng chảy”. Hơn nữa, trong thơ hiện đại, thơ hậu hiện đại , thơ văn xuôi… có những bài không vần (chứ chưa nói ” không bắt vần”) mà tứ thơ vẫn liên tục, liền mạch. Thơ không vần thì lấy đâu vần mà bắt, và như vậy là không có tứ thơ và không phải thơ sao? …
    Vài dòng cùng anh. Chúc anh vui khỏe.
    Thân quý.
    Người em chưa gặp mặt anh
    Lê Thiên Minh Khoa

BÌNH LUẬN