Văn học Tây Ninh bức tranh sinh động… – Ký sự La Ngạc Thụy

0
63
IMG_04012016_104933
Gần 70 năm sống trong lòng Tây Ninh, dõi theo ký ức của chính mình, nhắm mắt lại tự hình dung vóc dáng văn học Tây Ninh. 70 năm ký ức đủ đong đầy nhưng cũng không ít khoảng trống vắng. Đến sau này, khoảng trống vắng cũng dần lấp bước đi của văn học, phục dựng sinh động bức tranh nối dài từ những năm đầu thế kỷ 20 đến thời điểm hiện tại của Tây Ninh với cuộc hành trình dài…
Cũng cần nhắc lại, thế kỷ 17, lưu dân từ miền Tây sông nước đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất Tây Ninh, dòng văn học dân gian qua câu hò điệu lý cũng theo chân. Đến cuối thế kỷ 18, văn học chữ viết mới hình thành, do một nhóm văn nhân thi sĩ khởi xướng qua xướng họa, ngâm vịnh. Theo nhà sưu khảo Huỳnh Minh, ghi lại trong tập “Tây Ninh xưa và nay”: “Âm lịch năm Tân Sửu (1901) tháng giêng, nhân dịp Bạch mai trổ hoa, làng thơ Tây Ninh tổ chức cuộc hành hương lên núi Điện Bà, có rước nữ sĩ Nguyệt Anh (Sương Nguyệt Anh – bút danh là Thụy Khê) tham dự, luôn tiện thưởng hoa Bạch mai, thừa hứng ngâm đề, nêu câu giai tác…”. Có thể nói đây là sự kiện đầu tiên của văn học Tây Ninh được ghi chép qua văn học sử (Tôi đã đề cập trong chương “Huyền thoại núi Bà Đen”). Mãi đến năm 1915, nhóm văn thi sĩ này thường xuyên tụ họp nhau để ngâm thơ, xướng họa. Giai đoạn này chữ quốc ngữ đã phát triển, ở Sài Gòn đã có báo bằng chữ Việt phát hành. Tờ báo đầu tiên là tờ Gia Định báo phát hành ngày 15-4-1865, mãi đến năm 1901 tờ Nông Cổ Mín Đàm mới ra đời và đến tháng 1-1919 tờ nhật báo Trung Bắc Tân Văn do nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút được phát hành… Ban đầu, do còn ảnh hưởng nền văn hóa Hán Nôm và văn học dân gian, nhóm văn thi sĩ ở Tây Ninh tập họp lại sáng tác, dần dần thành lập thi đoàn và sáng tác chủ yếu theo thể thơ Đường luật, chủ đề gắn liền với quê hương đất nước qua những chuyến du sơn ngoạn thủy và mạn đàm bên tách trà, chung rượu…
 
Giai đoạn này xuất hiện nhà thơ Võ Sâm với tập thơ “Thi phú văn từ”. Nhà thơ Võ Sâm xuất thân là một nhà giáo nên thơ của ông được các nhà thơ cùng thời đánh giá rất cao. Các ông Tô Ngọc Đường (Đốc phủ), Huỳnh Văn Tâm (Hương cả), Hương lễ Tịnh cùng nhà giáo Võ Văn có thể nói là những người đầu tiên tạo nền móng cho nền văn học Tây Ninh. Nhà giáo Võ Văn Sâm sau đã tham gia viết báo “Nông Cổ Mín Đàm”, Gia Định Báo, Lục Tỉnh Tân Văn…
 
Đến năm 1923, cụ Quốc Biểu Nguyễn Cư Hiến mới thành lập Văn đàn Quốc Biểu, có thể nói đây là văn đàn tổ chức văn nghệ sĩ đầu tiên tại Tây Ninh. Theo nhà nghiên cứu Phan Kỷ Sửu thì “Cụ Hiến là một trí thức tiến bộ, một nhà thơ yêu nước, cũng là một nhà hoạt động cách mạng có quan hệ mật thiết với nhà báo Trần Huy Liệu, nhà yêu nước Nguyễn An Ninh… Văn Đàn Quốc Biểu quy tụ khoảng 20 người, trong đó có các cụ Nguyễn Toại Chí (tự Thanh Phong), Dương Văn Kim (tự Nhà Quê), Lê Chí Thành (tự Cổ Lệ), Võ Trung Nghĩa (tự Lâm Tuyền), Võ Văn Tấn (tự Tân Sắc), Sầm Văn Đá (tự Sầm Sơn), Thanh Vân, Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Văn Vàng, Du Tử, Mai Huê, Nhất Thiện, Huỳnh Văn Cầu (tự Huỳnh Long)…Họ thường tập họp để sinh hoạt thi phú tại Gò Chẹt.
 
Mãi đến năm 1950 mới xuất hiện thêm Văn đàn Đạo Đức do ông Cao Huỳnh Diêu, bút tự Huyền Quang – Chánh Đức (Cao Tiếp đạo) thành lập, nhưng chỉ hoạt động khoảng hai năm. 7 năm sau được ông Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu phục hồi.
 
Thời kỳ 1945 -1975 văn học Tây Ninh với hai dòng chảy rõ rệt: văn học cách mạng và văn học vùng tạm chiếm. Thực tế lịch sử cho thấy, Tây Ninh là vùng đất gắn bó với nhiều văn nghệ sĩ cách mạng cả nước. Bởi Tây Ninh có căn cứ TW cục miền Nam, nơi tập trung cán bộ cao cấp lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc kháng chiến cứu nước; văn nghệ sĩ, nhà báo là lực lượng không thể tách rời để phản ánh công cuộc kháng chiến của quân và dân ta, đặc biệt là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ tập hợp hầu hết các văn nghệ sĩ cách mạng, với nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng căn cứ cách mạng, kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tiểu ban Văn nghệ thuộc căn cứ TW Cục, có cả các văn nghệ sĩ cách mạng ở miền Nam và của miền Bắc chi viện: Hoàng Việt, Bảo Ðịnh Giang, Xuân Hồng, Lý Văn Sâm, Huỳnh Minh Siêng, Mai Văn Bộ, Trần Hữu Trang, Anh Ðức, Chim Trắng, Giang Nam, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Hoài Vũ… Riêng lĩnh vực văn học ở Tây Ninh với các cây bút Vân An, Phan Văn, Xuân Quang, Phương Hùng, Xuân Phát… sau 30-4-1975 chính lực lượng này là những người đầu tiên tổ chức vận động và hình thành Hội Văn học Nghệ thuật Tây Ninh hiện nay.
 
Tôi bắt đầu tập tễnh làm thơ, viết văn vào những năm 60. Là người Tây Ninh nhưng trong giai đoạn này tôi am hiểu, mê đắm thơ của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử, TTKH, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Lệ Khánh, Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng… mà quên đi những văn thi sĩ ở Tây Ninh cũng rất tài hoa, văn chương sắc sảo, nổi danh không kém đã góp phần tạo nên diện mạo văn học Tây Ninh trong vùng tạm chiếm. Những nhà văn, nhà thơ Thẩm Thệ Hà, Thanh Việt Thanh, Từ Trẫm Lệ, Trường Anh, Phan Yến Linh, Hi Đạm, Lâm Tuyền, Phan Phụng Văn, Mặc Tường Ly (Xuân Thới), Vân Đằng, Tinh Sắc, Xuân Sắc, Thái Phong… và kế tiếp có các cây bút: Yên Giang Nguyễn Khắc Chánh, Vũ Anh Sương, Trần Thy Dã Tràng, Điệp Thuyên Ly, Sa Chi Lệ, La Ngạc Thụy, Vũ Miên Thảo, Nguyễn Quốc Nam, Trần Duyên Tưởng, Hồ Chí Bửu, Dạ Vũ, Phương Đình, Phan Kỷ Sửu, Hoàng Hương Trang, Sa Mạc Linh, … hầu hết đều có những tác phẩm in riêng và đăng báo, nhất là mảng thơ xuất hiện nhiều trên báo chí ở Sài Gòn. Đặc biệt là nhà giáo – nhà văn – nhà phê bình Thẩm Thệ Hà, nhà văn Phan Yến Linh… có nhiều tác phẩm được xuất bản và các nhà thơ Trường Anh với thi phẩm “Mưa đêm nay” xuất bản năm 1964, Thái Phong với thi phẩm thơ “Linh Sơn thắng cảnh” xuất bản năm 1968, Yên Giang Nguyễn Khắc Chánh với tập “Mưa phổi” xuất bản năm 1969…  được giới văn chương Sài Gòn đánh giá cao về chất lượng nghệ thuật. Trong giai đoạn này xuất hiện bút nhóm “Đất Lành” với những tên tuổi: Hưng Huyền, Thảo Anh, Bảo Tồn, Phi Yến, Thái Thường, Thuần Khiết… đã tập hợp lại thường xuyên tổ chức sáng tác, ngâm vịnh với thể loại Thơ Đường luật. Nối tiếp lực lượng sáng tác thơ mới cũng tập hợp lại thành lập các bút nhóm hoặc thi văn đoàn: Động đất, Đất đứng, Mây núi Điện, Trăng Vàm Cỏ Đông, Tiếng lòng Vàm Cỏ … trong xu thế chung của miền Nam xuất hiện và mọc lên như nấm sau mưa, song cũng chỉ quy tụ bạn bè, thân hữu, những người yêu thích thơ ca, chủ yếu sinh hoạt nội bộ, không có tầm lan xa, đó cũng là một nét mới mẻ của đời sống văn học lúc bấy giờ. Nổi bật nhất là các bút nhóm Động đất, Đất Đứng, Trăng Vàm Cỏ Đông đã chủ trương xuất bản tạp chí văn học hẳn hoi. Sẽ có ghi nhận riêng về 3 bút nhóm này.
 
Ở giai đoạn này, hầu hết các cây bút đều làm thơ, đội ngũ viết văn xuôi rất ít, chỉ đếm được trên đầu một bàn tay: Thẩm Thệ Hà, Phan Yến Linh, Vân Đằng, Hồ Nhật Nguyệt, La Ngạc Thụy… Các văn thi sĩ từ trong chiến khu về như các ông Tư Văn, Bảy Dũng, Bảy Phát, Xuân Thới, Xuân Quang… Từ báo Thống Nhất chuyển về có nhà văn Vân An, bên Đài truyền thanh có nhà thơ Cảnh Trà, cùng những cây viết tại chỗ như Phan Phụng Văn, Phan Kỷ Sửu, Xuân Sắc… họ mở một quán thơ trên núi Bà Đen, mục đích tuyên truyền cho nền văn học mới cách mạng, động viên tập hợp các văn nghệ sĩ trong tỉnh tiến tới thành lập Hội VHNT tỉnh”.
11705364_872663942821624_178749439811848022_n
Và Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh được thành lập từ năm 1985, nhưng mãi đến năm 1994 mới chính thức tổ chức Đại hội lần thứ I do ông Trần Công Nứ (nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin làm chủ tịch). Thời điểm này Hội Văn học Nghệ thuật đã tập hợp hầu hết các văn nghệ sĩ trước và sau 30-4-1975 trên các lĩnh vực: Văn học, Lý luận phê bình, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh nghệ thuật, Âm nhạc, Sân khấu… Riêng lĩnh vực văn học đã tập hợp các cây bút: Xuân Sắc, Xuân Quang, Phan Phụng Văn, Vân Đằng, Dương Văn Trị, Vũ Miên Thảo, La Ngạc Thụy, Nhất Phượng, Thu Trâm, Bích Như, Phạm Đình Trúc Thu, Xuân Đường, Phương Đình, Trần Viễn Thông, Nguyễn Quốc Nam, Thiên Huy, Phan Kỷ Sửu, Nguyễn Tấn Hùng, Hà Nhữ Uyên, Kha Ly Chàm, Văn Ngân,… cùng một số cây bút từ tỉnh khác chuyển về sinh sống ở Tây Ninh: Trần Hoàng Vy, Nguyễn Đức Thiện, Thạch Minh, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Văn Tài, Vũ Xuân Chinh… Sau này có thêm: Lê Bá, Nguyên Hạ, Nguyệt Quế, Minh Phương, Mộng Trung Nhân, Hường Liên, Võ Hòa Minh, Nguyễn Văn Ngọ, Phạm Mai … Tiếp bước có Đặng Mỹ Duyên, Đào Phạm Thuỳ Trang, Lê Thị Phù Sa, Phùng Thị Tuyết Anh, Thiên Kim, Sông Hương, Trương Thứ Bảy, Vũ Thiện Khái, Đào Thái Sơn, Lê Trí Viễn, Lê Hoài Tông, Vĩnh Thuyên, Huỳnh Gia, Lê Văn Thật, Nguyễn Xuân Khanh, Trần Nhã My, Lê Minh Tâm, Nguyễn Khắc Luân, Phước Hội, Nguyễn Đức Nguyên, Ngọc Tình, Mai Tuyết, Hàm Chương, … Nói vui, thế kỷ trước văn học Tây Ninh chỉ xuất hiện khiêm tốn trên trên Tạp chí Văn nghệ Tây Ninh và Báo Tây Ninh, chưa vượt qua khỏi ranh giới Suối Sâu. Sau này mới xuất hiện trên các trang báo của TP. HCM, rồi của cả nước, song nội lực vẫn chưa mạnh. Riêng các tác giả Cảnh Trà, Nguyễn Đức Thiện, Trần Hoàng Vy… xuất hiện thường xuyên.
Có thể nói hoạt động văn học nghệ thuật Tây Ninh bắt đầu khởi sắc từ năm 2004, năm mà cả nước nhận được sự tài trợ sáng tạo từ chính phủ thông qua Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Đây là chặng đường phát triển nhất nhìn từ góc độ lực lượng văn nghệ sĩ và tác phẩm được xuất bản.
 
Để hình dung rõ nét hơn về chặng đường phát triển của văn học Tây Ninh, chúng ta hãy lui về năm 1993 – 1994, giai đoạn chuẩn bị đại hội Văn nghệ Tây Ninh lần thứ nhất, Tây Ninh mở cuộc thi sáng tác mang tầm vóc qui mô tương đối lớn đầu tiên kể từ sau ngày giải phóng 30-4-1975 của tỉnh về văn học nghệ thuật mang tên “Tây Ninh – những chặng đường vàng son”. Riêng về mảng văn học với các tác giả đạt giải như Nguyễn Đức Thiện, Nhất Phượng, La Ngạc Thụy, Nguyễn Quốc Việt, Phạm Đình Trúc Thu, Tích Lan (Vân Đằng), Minh Phương … hiện nay đã trở thành những cây bút chủ lực của văn học Tây Ninh. Thực tế, suốt quảng thời gian sau này đến năm 2004, ngoài nhà văn Nguyễn Đức Thiện và nhà thơ Trần Hoàng Vy xuất bản vài đầu sách là cả thời gian dài đời sống văn học Tây Ninh khá bình lặng. Sở dĩ có sự bình lặng này là vì trong đời sống văn học giai đoạn này chưa xuất hiện những “cú hích” cần thiết cho hoạt động sáng tạo. Cụ thể, sau đại hội lần thứ I chưa bao lâu, cơ quan Hội cũng thu hẹp lại còn 2 phòng trong khuôn viên Sở Văn hóa – Thông tin và tạp chí Văn nghệ Tây Ninh – nơi chuyển tải tác phẩm của văn nghệ sĩ cũng ngưng phát hành, nếu có cũng chỉ 1, 2 số trong năm để minh chứng là Hội VHNT Tây Ninh vẫn tồn tại. Hoạt động sáng tác văn chương của văn nghệ sĩ trong giai đoạn này trở nên đơn độc, thầm lặng gắn với nhu cầu tự biểu hiện tư tưởng tình cảm cá nhân là chính của những người còn tâm huyết.
 
Chương trình hỗ trợ sáng tạo tác phẩm của Chính phủ năm 2004 thật sự là “cú hích” tạo bước đột phá. Khởi đầu là 2 đầu sách Truyện ký và thơ “30 năm Giải phóng Tây Ninh”, tập hợp hầu hết những tác giả và tác phẩm được sáng tác từ sau năm 1975. Tuy nhiên, do quá trình chuẩn bị quá gấp rút nên số lượng và chất lượng tác phẩm, tác giả chưa phản ánh đúng thực tế sáng tạo của văn nghệ sĩ suốt 30 năm qua. Đây cũng là chất xúc tác tạo ra sự cộng hưởng kích thích cảm hứng sáng tác, một không khí văn chương sôi động và thực sự khởi sắc tạo hiệu ứng cho sự nẩy mầm, cất cánh, có sức lan tỏa thúc đẩy văn nghệ sĩ sáng tạo để có những tác phẩm văn chương lần lượt ra đời. Song song với 10 đầu sách văn và thơ từ nguồn kinh phí tài trợ, một số tác giả tâm huyết trong và ngoài hội đã tự đầu tư trí tuệ và tiền bạc xuất bản nhiều đầu sách, tạo cho đời sống văn học Tây Ninh trở nên có sinh khí. Nếu như từ năm 2004 cho đến năm 2008, Hội đầu tư xuất bản 7 đầu sách là những tuyển tập cho nhiều tác giả có trọng điểm, chỉ duy nhất một tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” của tác giả Vũ Miên Thảo là được in riêng và năm 2009, sau đại hội Văn nghệ lần thứ III mới có chủ trương thẩm định tác phẩm xuất bản riêng từng tác giả với 3 đầu sách. 6 năm chỉ xuất bản được 10 đầu sách là quá ít so với nhu cầu. Cần ghi nhận, trong khoảng thời gian này các tác giả đã tự đầu tư kinh phí in nhiều đầu sách đã góp phần tạo nên diện mạo văn học Tây Ninh thêm đa dạng, phong phú.
 
Những năm qua, số lượng tác phẩm được giới thiệu, đầu sách xuất bản không ít nhưng nhìn chung chất lượng chưa cao, còn quá ít tác phẩm tạo được dư luận, chưa gây được tiếng vang trên diễn đàn văn học. Ngoài ra còn có những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Đức Thiện, Trần Hoàng Vy, Thạch Minh nhưng do số lượng phổ biến ở Tây Ninh quá ít nên cũng không tạo được dấu ấn, đi vào lòng bạn đọc. Không khí sáng tạo và in ấn khá sôi động với những đề tài và bút pháp còn theo lối mòn quen thuộc chưa có thay đổi nhiều. Phần lớn người viết chưa có ý thức tìm tòi, sáng tạo và đổi mới trong sáng tác. Không thể phủ nhận đang có sự chuyển hướng nào đó trong một số tác phẩm đặc biệt là của nhà văn Nguyễn Đức Thiện và Thạch Minh. Còn lại chưa thât sự có thay đổi và định hình phong cách rõ rệt trong đội ngũ những người sáng tác.
 
Đội ngũ sáng tác thơ ở Tây Ninh khá đông và đầu sách xuất bản nhiều. Mỗi năm đều có từ 3-5 đầu sách. Có thể kể đến những tập thơ được xuất bản: Lang Thang (Nguyễn Đức Thiện, Nxb Hội Nhà văn – 2005), Bóng nhớ (Trần Hoàng Vy, Nxb Văn học – 2005), Nắng trong tim – nắng trong thơ (Phan Kỷ Sửu, Nxb Văn nghệ – 2006), Em và tôi và năm tháng, trăng và biển và em (Minh Phương, Nxb Văn nghệ – 2006), Ánh đèn phố Núi (Sông Hương, Nxb Văn nghệ – 2006), Dòng sông và nỗi nhớ (Vũ Miên Thảo, Nxb Văn nghệ – 2006), Chốn xưa (Nguyễn Quốc Nam, Nxb Văn nghệ – 2006),  Đi về phía mặt trời (Khali Chàm – Nxb Văn nghệ – 2006), Cọng rau tập tàng (Cảnh Trà, Nxb Hội Nhà văn – 2007), Trăng ngân (Nguyệt Quế, Nxb Thanh Niên – 2007), Trên lối đi xưa (Trần Mỹ Liên, Nxb Hội Nhà văn – 2007), Môi ngọt (Nguyễn Thị Kim Liên, Nxb Hội Nhà văn – 2007), Một mình hát với đêm khuya (Trương Văn Bảy, Nxb Hội Nhà văn – 2007), Thơ Tây Ninh (Nhiều tác giả, Nxb Văn nghệ – 2008), tập thơ thiếu nhi Chớp mắt rồi cười (Trần Hoàng Vy, Nxb Văn nghệ – 2009), Cảnh Trà (Phơi Rơm – 2011), Lê Thị Phù Sa (Chiếc bóng bên đời – 2011), Nguyễn Thị Kim Liên (Con sông chúng mình – 2011), Hạ Vy Phong (Chút tình của gió – 2011), Nguyệt Quế (tập thơ Tóc Rau Hẹ  – 2012), Trần Nhã My (Dỗi  – 2012, Mảnh vỡ không lời – 2014), Lê Trí Viễn, Lê Hoài Tông (tập thơ in chung – 2012), Đào Thái Sơn (Ánh mắt tẩy trần – 2013), Nguyễn Xuân Khanh, Thanh Liêm, Chân Quê in chung tập thơ Tình yêu và Khoảng lặng – 2014), Lê Văn Thật (Tiếng quê – 2014), Nguyễn Trung Cấp (tập thơ – 2014), Vũ Thiện Khái (Hương Hoa Mộc – 2015), Ngọc Tình (Hoa Cau – 2015), Nghiêm Khánh 2 tập thơ 2013 – 2015, Mai Tuyết (Người đàn bà nhặt nỗi buồn – NXB Hội Nhà văn 2016…
 
Về mảng văn xuôi, lực lượng và số đầu sách có ít hơn so với thơ nhưng đa số đều khẳng định được mình có tác phẩm đăng tải trên diễn đàn văn nghệ cả nước. Ngoài nhà văn Nguyễn Đức Thiện được xem như sáng tác chuyên nghiệp với hơn 10 đầu sách có sự hỗ trợ in ấn của Hội Nhà văn Việt Nam, còn lại đều sáng tác chưa đều. Những tác phẩm xuất bản có thể kể: tập truyện ký nhiều tác giả “30 năm Giải phóng Tây Ninh (Hội VHNT Tây Ninh tuyển chọn và xuất bản – 2005), Người Thanh tra kiên cường (Thạch Minh, Nxb Công an nhân dân – 2005), tập truyện ngắn Những cây bút trẻ Tây Ninh (Hội VHNT Tây Ninh – 2006), tập truyện ký Những câu chuyện sau 30 năm (Nhiều tác giả, Nxb Văn nghệ – 2006), Đồi Cỏ hát (Trần Hòang Vy, Nxb Kim Đồng – 2006), Những giấc mơ đã thành sự thật (Bút ký La Ngạc Thụy- Nguyễn Tấn Hùng, Nxb Văn nghệ – 2007), Chuyện đời đen trắng (Thạch Minh, Nxb Hội Nhà văn – 2008), Mùa bông súng tím biếc (Truyện ký Nguyễn Khắc Luân, Nxb Hội Nhà văn – 2009, Nguyễn Ðức Thiện (Một vùng non nước Tây Ninh – 2011), Lê Bá (Thằng Lại – 2011, Trần Hoàng Vy (Cầm nhặt tri âm – 2011, tập truyện thiếu nhi Chớp mắt rồi cười – 2012), La Ngạc Thụy (Bến Quê Hương – 2013, Phùng Phương Quý (Khoắc khoải tiếng rừng xưa – 2011, Lao xao chuyện đời – 2013), Thạch Minh (Xuyên dọc Trường Sơn -2012, Súng gầm giữa rừng La Hạp – 2014)) … đầu tư viết từ truyện vừa đến truyện dài, phản ánh được thực tế chiến tranh cách mạng, xã hội Tây Ninh, nhưng chưa nhiều; còn lại là những cây bút chuyên viết truyện ngắn: Nguyễn Khắc Luân (Cây Mai vàng trổ một bông trắng – 2013), Nguyễn Ðức Nguyên (Miếu thiêng góc výờn – 2013), Phuớc Hội (Nợ rừng – 2014), Ðào Phạm Thùy Trang (Ví dầu cầu ván – 2014), Vũ Thiện Khái ( Ðất Thiêng, Thao thức sông quê – 2015, Sông nguồn – 2016)… Ðây là những tác giả đầy nội lực của văn xuôi Tây Ninh. Mảng nghiên cứu – lý luận – phê bình hầu như trống, chỉ có tác giả Trần Hoàng Vy và Cảnh Trà xuất bản 2 tập tiểu luận chưa hẳn là nghiên cứu hay phê bình.
Ngoài những tác phẩm được  in riêng (do Hội hỗ trợ hoặc do tự tác giả đầu tư kinh phí), Hội Văn học Nghệ thuật Tây Ninh còn chú ý xuất bản các tuyển tập Thơ và Văn xuôi tập hợp hầu hết các tác giả đang sống và làm việc ở Tây Ninh: Tập thơ Núi quê mình, Tuyển tập 40 năm Thơ Tây Ninh và 40 Văn Tây Ninh (1975-2015) kỷ niệm 40 nãm giải phóng và 180 nãm – Tây Ninh hình thành và phát triển. Qua những tác phẩm văn xuôi đã xuất bản, điều đáng quan tâm là chưa có tác giả nào đầu tư sáng tác dài hơi (ngoài nhà văn Nguyễn Ðức Thiện đã qua đời).
 
Truyện ngắn và bút ký luôn là thể loại được các tác giả lựa chọn sáng tác, mảng thiếu nhi dường như bỏ ngõ, chỉ có tác giả Trần Hoàng Vy còn theo đuổi nhưng chưa nhiều và đã sinh sống ở nước ngoài, mảng đề tài chiến tranh, truyền thống cách mạng ở Tây Ninh không có tác giả nào đủ vốn sống để thể hiện. Ðây là mảng thiếu xót lớn, chúng ta đang mang nợ với lịch sử và quá khứ vì Tây Ninh là nôi cách mạng, rất phong phú về đề tài. Phải nói là văn xuôi Tây Ninh còn bó hẹp về đề tài và thể loại, sa vào đề tài vụn vặt không có sự đầu tư nghiêm túc. Các tác phẩm in thành sách là một sự tập họp lại, chưa có chủ đề rõ ràng, dễ dãi và đơn điệu.
Một vấn đề khác rất đáng quan tâm là lực lượng sáng tác trẻ quá ít ỏi như Trần Nhã My, Trương Thứ Bảy tuổi đã ngoài 40, chỉ còn Bùi Bảo Kỳ, Anh Duy, Nguyễn Vãn Ðôn, Ðàm Hoàng Kiệt… nhưng chưa định hình, bút pháp còn hạn chế. Lực lượng trẻ kế thừa đang hụt hẫng và các tác giả chủ lực hầu hết đã cao tuổi khó bứt phá mạnh mẽ. Trong lúc người đọc đang chờ những tác phẩm hay hơn, mới lạ hơn và thể hiện được hiện thực xã hội cũng như trăn trở của cuộc sống. Ðặc biệt là những tác phẩm mang tính đạc trưng Tây Ninh. Một điều trăn trở khác, nếu như việc hỗ trợ sáng tạo văn học chưa có giải pháp tối ưu, chưa có biện pháp vận động xã hội hóa và đầu tư trọng điểm thì khó có tác phẩm xứng tầm mà văn nghệ sĩ Tây Ninh đang nặng nợ.
 
Nhìn chung lực lượng thơ đông đảo, chất lượng tác phẩm khá đồng đều nhưng chưa có hiện tượng bứt phá. Chỉ có Trần Nhã My với phong cách thơ hiện đại…. Có thể nói thơ Tây Ninh đã xuất bản tạo được diện rộng nhưng thiếu đỉnh cao, có đổi mới và bứt phá nhưng còn ít tác phẩm tạo được dấu ấn đáng chú ý về mặt thi pháp. Một số tác giả cũng đang thể nghiệm cách tân, nhưng chưa định hình rõ nét …  Qua những tác phẩm văn xuôi đã xuất bản cho thấy các tác giả Trần Hoàng Vy, La Ngạc Thụy, Nguyễn Khắc Luân, Thạch Minh, Đặng Hoàng Thái, Đào Phạm Thùy Trang … sức viết khỏe, giọng văn sắc sảo, nhiều vốn sống và tiếp cận hiện thực xã hội không né tránh. Đây là các tác giả đầy nội lực của văn xuôi Tây Ninh. Còn các tác giả Thiên Huy, Bích Như, Thu Trâm, Nguyễn Tấn Hùng, Nhất Phượng … do công tác bận rộn ít viết hơn, có người buông bút hẳn. Nhìn chung các tác giả văn xuôi sáng tác chưa đều, sức viết chưa thật sung mãn nên mảng văn xuôi đang bị thu hẹp dần. Văn học Tây Ninh đang cần và chờ sự trở lại của họ.
 
Trên đây chỉ là một số cảm nhận cá nhân có thể còn phiến diện, nhưng là một thực tế đáng quan tâm. Rất cần những nhà quản lý văn học nghệ thuật phân tích đầy đủ và khách quan hơn để có biện pháp thúc đẩy nền văn học Tây Ninh theo kịp đà phát triển chung của tỉnh.
 
La Ngạc Thụy

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN