ĐI TÌM CÁI BUỒN LÊ THÊ TRONG: “THAO THỨC SÔNG QUÊ”* CỦA VŨ THIỆN KHÁI – Trần Văn Hờ

0
67


        2015-04-01-12-02-28

                                                               *Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2015.

 

Khi đọc: “ Một khúc sông quê thao thức”, truyện ngắn đầu, cũng là truyện nền của tập truyện: “Thao thức sông quê” của Vũ Thiện Khái, câu hò của nhân vật Quang đã làm tôi có một cảm giác bâng khuâng khó tả. Buồn gi mà buồn lê thê buồn.

Hò ơ hò…Vắng em chỉ một phiên đò…

Ơ ơ hò…Trầu ăn chẳng có…buồn lê thê buồn

Không biết câu hò trên đây đã từng nằm trong kho tàng văn học dân gian; hay do Quang nói lên nỗi lòng của mình sau khi sơ kết một chặng đường đời trong việc chèo đò đưa khách sang sông, hay do chính tác giả đặt tên cho một trạng thái cảm giác của chính mình, khi chứng kiến bao cảnh đời qua gần một kiếp nhân sinh?.

Một câu tự vấn. Tự vấn này buộc tôi phải đọc liền một mạch các truyện tiếp theo, may ra tìm được câu trả lời.

Nằm một mình trên chiếc giường cứng của chuyến tàu từ Huế về Sài Gòn, với thời gian một ngày đêm, trừ những giờ phút dành cho việc ăn ngủ và những thứ cần thiết khác, tôi đã dùng nó để ngấu nghiến từng trang sách của tác giả tặng nhân ngày họp mặt kỷ niệm lần thứ 8-Đất Đứng. Cái lắc lư của con tàu làm cho tạng người già như tôi khó ngủ, nhưng lại là cái điều kiện để tôi nuốt từng con chữ và từng bước phát hiện được nhửng cái buồn đắng lòng: Buồn lê thê buồn.

Ông giáo Định, nhân vật chính trong “Một khúc sông quê thao thức”. Đúng rồi, có lẽ ông Định là một người trong những người mang nỗi buồn lê thê. Hãy tưởng tượng như chính mình, khi đến thặm người bạn đồng môn bị tai biến, gặp vợ bạn, cũng chính là người yêu đầu đời của mình, ngồi xoa bóp tay chồng, ngúc ngoắc mái tóc xác xơ xụt xịt những lời oán thán cải lương hạt nhẽo. Chắc không có gì buồn hơn.

Lại càng không thể không buồn không được, khi đang học năm cuối Tổng Hợp Văn, chỉ còn chờ thời gian và qua kỳ thi tốt nghiệp sẽ được nhận tấm bằng Cử nhân với tương lai xán lạn đang chờ phía trước. Thế nhưng, một bi kịch không biết gọi tên là gì ập đến, chàng sinh viên Định đành phải nhận một quyết định tạm thời đi lao động tận công trường khai thác nứa Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xa tít. Cực khổ còn cố chịu đựng, chứ làm sao chịu được nỗi đau như cật nứa cứa vào khúc ruột khi đón nhận những lời dị nghị, đàm tiếu sau lưng.

Đất nước được hoàn tòan giải phóng, biết bao người vui, nhưng ông giáo Định vẫn buồn. Sau 30/4/1975 khoảng một năm, khi tìm kiếm được người cha mang nhiều uẩn khúc, chứng kiến chỗ trú ngụ của cha, một căn phòng nhỏ dành cho giáo viên độc thân. Không buồn, sao mà hai cha con ngồi ôm nhau khóc, để rồi năm năm sau người cha mới nhận được tin từ chốn quê nhà, ông Chủ tich xã đã nhận được văn bản phục hồi Đảng tịch và quân tịch cho mình. Tôi đã khóc trước trang văn của tác giả tả cảnh giây phút lâm chung của người cha.

Trở lại nhân vật Quang, cháu ông Đồng, một lão ngư kết bạn với ông giáo Định, một chàng trai mồ côi cha mẹ, mới mười sáu tuổi đã cao to vạm vỡ hơn đô vật nhưng mù chữ. Quang tưởng chừng như chắc mẫm sẽ được ông mua cho chiếc xe đạp Thống Nhất sau khi đánh bắt được mấy mẽ cá mòi đầy ắp khoang thuyền. Thế mà quả bong bóng ước mơ đã bị nổ tan tành trước hồi còi ré lên cùng với lệnh ban ra từ ông Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp.

Một nhân vật khác, ông Mô, người bạn cùng tham gia Việt Minh với cha ông giáo Định. Người có một uẩn khúc đến nỗi phải xin tổ chức cho nghỉ vì có con trai mê cô hàng xén chợ và dắt nhau di cư vào Nam hồi 1954. Ông Mô chết mà nào được thanh thản vì chưa hề biết được con trai mình chỉ đi theo tiếng gọi của tình yêu chứ không làm gì có hại cho đất nước.

Chỉ một truyện ngắn đầu tiên mà có lắm nỗi buồn.

  *

*   *

Khép lại: “Một khúc sông quê thao thức”,lần sang: “Sợi lông đuôi voi bạch”. Cứ tưởng đây là một câu chuyện đường rừng hay có một chút gì mang tính trinh thám, nhưng lại là truyện kể về một cảnh buồn lê thê khác. Anh Hậu, người em của nhân vật xưng tôi trong truyện, một người đáng lẽ phải được đi học đại học, đi học sĩ quan nhưng bị ông Hách, một cán bộ là bạn học của cha để bụng tư thù, giấu ém giấy báo trúng tuyển đại học và lập cách đưa đi nghĩa vụ. Khi anh Hậu được đơn vị cử đi học sĩ quan, ông Hách lại vụng trộm phê vào lý lịch là dòng dõi quan lại phong kiến. Dù biết người bố anh Hậu được tổ chức phân công bí mật công tác, vậy mà ông Hách lại ghi có thời gian hoạt động cách mạng, nhưng mất tích, nghi theo địch đã chạy vào Nam. Còn người anh, nhân vật xưng tôi trong truyện thì bị cho rằng đã từng theo học học bên Liên Xô, nhiễm tư tưởng xét lại. Trời ơi! Vào thời điểm chiến tranh khốc liệt ấy, với một cái lý lịch đen như bồ hóng, nặng như tảng đá thì dẫu mười người như anh Hậu cũng không gánh nổi, không ngóc đầu lên được.

Một tình tiết khá bất ngờ khi nhân vật xưng tôi quyết định giấu anh Hậu lời tạ lỗi cuối đời của ông Hách, thì ba tiếng trống phát tang nhà ông Hách vang lên, và ngay chính lúc này, anh Hậu lại lên tiếng với người anh về việc từ lâu lắm rồi, anh đã biết được câu chuyện mà ông Hách phải tìm cách tạ lỗi trước lúc lâm chung.

Ôi! Một nỗi oan khiên cho một thân phận con người. Chỉ vì mê muội trước sự thêu dệt về tính năng và công dụng của sơi lông đuôi voi bạch mà gây nên sự tư thù rồi làm hại một đời người.

Thật khâm phục anh Hậu, dầu trở về với một chiếc chân bị cưa tận háng vẫn không ân hận  gì, chỉ day dứt khôn nguôi vì thương thằng con bị nhiễm chất độc màu da cam… Một tấm lòng của vị sư nhập thiền.

 *

* *

RƯỢU VÂN

Là một ông giáo làng như tôi làm sao không uống rượu. Chính vì vậy, khi bắt gặp tựa đề truyện ngắn: “Rượu Vân”, cảm giác ban đầu của tôi một là nghĩ sẽ được tiếp cận với sinh hoạt của những người nấu rượu và uống rượu ở làng Vân, hoặc những xung đột của họ.Thế nhưng, những trang đầu của truyện lại đưa cho tôi những thông tin về hai họ tộc Đinh Việt và Nguyễn Doãn đến định cư vùng đất này hơn 500 năm trước với những nội dung vừa hư hư, vừa thực thực.

Với ý định đi tìm cái buồn lê thê trong tập truyện: “Thao Thức Sông Quê”nhưng chưa gặp chi tiết buồn nào khi đọc được một phần của truyện ngắn này. Vừa chuẩn bị gấp sách thì cảnh tượng làng Vân bị nằm trong vùng giặc Tây tạm chiếm trong giai đoạn toàn quốc kháng chiến lại đập vào mắt tôi. Đoạn phim đầy đau thương và khổ nhục mà nhân vật chính là vợ chồng thầy giáo Hoan đã làm lòng tôi quặn thắt. Tôi muốn kêu lên hai tiếng: “Thầy ơi!” khi đọc đến đoạn lúc khâm liệm mà một bàn tay của thầy Hoan còn nắm khư khư viên phấn thấm đẩm dòng máu đỏ. Ai mà không khóc được trước cảnh vợ thầy giáo Hoan phải trầm mình nơi sông Cái trong một đêm hoảng loạn khi thấy mình có dấu hiệu mang thai sau một tháng bị bọn Tây da đen hãm hiếp.

Cái buồn lê thê trong truyện ngắn thứ ba này không chỉ là cái buồn cho một nhân vật nào, mà là cái buồn cho cả dân tộc Việt Nam trước cảnh nước mất nhà tan.

Mạch truyện còn đưa đến hình ảnh của cụ đồ Hân (cha thầy giáo Hoan) đã hơn sáu mươi tuổi phải cưu mang đứa cháu nội mới lên năm mồ côi cả cha lẫn mẹ. Rồi lại gian khổ hơn đến khi ngoài tám mươi tuổi phải giang đôi cánh tay già nua ấp iu che chở đứa chắt gái mồ côi yếu ớt. May mà Bích Vân, hậu duệ cuối cùng của dòng họ Nguyễn Doãn danh tiếng đã không phụ lòng mọi người, dù tốt nghiệp trung học loại xuất sắc, lý lịch thuộc diện ưu tiên, nhưng lại thản nhiên mang sách vở khóa chặt vào ngăn tủ, ở hẳn nhà chăm sóc cụ cố già yếu hom hem gần chạm trăm năm sống khổ. Nhận bằng tôt nghiệp hôm trước, hôm sau Bích Vân lôi bồ đồ nghề ra nấu rượu, sản xuất ra được thứ nước diệu kỳ, khiến người uống vào hồn lâng lâng bay bổng.

Niềm vui cuối truyện như được dâng lên khi dòng họ Đinh Việt bây giờ có một hậu duệ là tiến sĩ địa chất đã sánh duyên cùng Bích Vân, chẳng những phá lệ là hai dòng họ đã kết nghĩa sui gia và sau đó vợ chồng họ sinh một lượt được hai con, một trai trán cao, lưng dài, hội đủ tinh anh của cụ thượng tổ, một gái mắt xanh, tóc mềm như liễu. Ôi! Còn gì hạnh phúc bằng.

Thế mà niềm vui cuối truyện này bị hụt hẫng khi tác giả đưa vào truyện tình tiết: một nhà máy hóa chất được long trọng làm lễ khánh thành tại làng Vân ngay vào ngày Bích Vân lâm bồn sinh hai con; sau đó thì con sông nhỏ chảy ngoằn ngoèo ôm ngọn gò năm trăm năm trước cụ tổ chọn làm đất dựng nhà đã cạn nước biến thành đường bộ; cái giếng linh thiêng nguồn cội của thứ rượu Vân đặc sản cũng đột nhiên tắt mạch; cụ đồ Nguyễn Doãn Hân rồi cũng về cõi vĩnh hằng.

Không biết ông tiến sĩ địa chất và nàng Bích Vân, hai hậu duệ cúa hai dòng họ Nguyễn Doãn và Đinh Liệt có thực hiện được ý đồ cụ cố muốn gửi lại qua hai vò rượu gắn xi kín mít với chữ đề là Vân Tửu và Bích Vân Tửu hay không?

Xin chép lại nguyên văn đoạn cuối câu truyện cho mọi người suy ngẫm, để có một niềm vui hy vọng hay lại có một nỗi buồn lê thê: “ Vậy là dưới sâu lòng đất, ngọn nguồn dòng nước linh thiêng giếng cổ vẫn còn. Vậy là nguồn cội rượu Vân không thể mất. Nguồn cội của bao cái đẹp, cái chân, cái thiện đâu chỉ vì một hành vi nông nổi của con người, mà chịu tức tưởi chết đi vô tăm vô tích

  *

*  *

NHỮNG TRUYỆN NGẮN TIẾP THEO

Cũng với giọng văn mượt mà, khúc chiết, tác giả của tập truyện: “Thao thức sông quê” lần lượt kể về những câu chuyện buồn của những phận người trong cái không gian rộng lớn của cả nước ta ở thời còn chia cắt hay đã được thống nhất, hòa bình.

Đọc truyện ngắn “Sông Nguồn” ta không thể không thương cảm số phận của những nhân vật nữ không tên. Một người là cô của nhân vật xưng tôi trong truyện, mới vừa là xạ thủ bấm cò bắn rơi máy bay Mỹ thì ngay trong trưa ngày hôm ấy, cô này cùng với cả khẩu đội hy sinh. Một người con gái khác, được người cha thương tật chèo đò nuôi ăn học tốt nghiệp đại học sư phạm rồi mà phải cam chịu phận gái phụ bố chèo đò chỉ vì không đáp ứng yêu sách đầu tiên của ai đó. Ôi cái yêu sách hết sức phủ phàng cho xã hội ta khi nói lái ngược lại: tiền đâu???

Đến với: “Xóm bình yên”, thoáng qua nhan đề của truyện, tưởng như tác giả sẽ đưa ta về thăm một làng thôn văn hóa mới, không hề có tệ nạn xã hội và mọi người cư xử với nhau bằng tình người. Ngờ đâu, cái xóm bình yên này lại được thuật lại bằng trí nhớ của một người mộng du. Tác giả còn lồng trong truyện nỗi đau của ông giáo Vũ bị tên đội trưởng sản xuất và cô con dâu lăng loàn cùng nhau tổ chức làm nhục, hay nỗi buồn của cô Lan, môt điển hình của lòng thủy chung, tự nguyện chỉ tính chuyện riêng tư khi tìm được mộ người tình, cuối cùng đành phải nương thân cửa Phật.

Rồi những truyện ngắn tiếp theo được sắp xếp, từ “Đầu năm ngọ nhớ vài chuyện ngựa” cho đến “ Vườn xoan” tác giả cũng cho ta gặp những phận đời buồn khổ như: những người đàn bà đẹp, mặc dú có chồng nhưng vẫn bị ông cai tổng Quẩn, một người có thú vui bệnh hoạn là thich cưỡi ngựa cầm roi đánh người làm nhục. Hay như truyện “Bài học”, tác giả với vốn sống của mình, chỉ hai sự kiện thôi mà đã qui kết được rằng: những người thợ mộc, thợ hồ đã từng xây dựng nhiều ngôi nhà thật đẹp thật sang cho người, nhưng nhà của mình thì ọp ẹp, vá víu. Tôi cũng từng chứng kiến tận mắt những ngôi nhà của vài người thân làm thợ hồ, thợ mộc. Hình như y như vậy. Đọc những truyện ngắn còn lại ta đều cảm nhận những nỗi buồn man mác….

TRUYỆN NGẮN SAU CÙNG

Với: “Ô…A!!!”, không biết những bạn đọc khác thì sau, nhưng với tôi, tác giả đã giấu một nỗi buồn đỉnh điểm, để gửi gấm toàn tâm tư của mình vào truyện ngắn sau cùng này. Tán thán từ “Ô”, “A” thường được sử dụng để diễn đạt một niềm vui hay một sự ngạc nhiên. Thế mà đọc hết: “Ô…A!!!” mới thấm thía được nỗi đau của một nhân vật không tên phải cam chịu làm thuê trên chính mảnh đất mà cả nhà mình đã mất bao công lao nhịn đói, chịu khổ không kể xiết, chẳng kể ngày đêm, quyết tâm khai hoang đào ụ mối kiên trì hàng chục năm trời, thậm chí cha và anh của nhân vật này đã chết không toàn thây, trong một ngày hai người ra sức đào bụi le san đất, không may bị đụng phải trái mìn Mỹ gài thời chiến tranh còn sót lại. Mẹ của nhân vật này cùng với một số bạn khai hoang đã phải nhặt từng mẫu thịt xương, không phân biệt của ai, nên đành phải chôn chung hai cha con dưới một nấm mồ. Nếu nhân vật nữ này đươc làm chủ trên mảnh đất thấm mồ hôi, nước mắt và xương máu của cha anh mình, chắc chúng ta sẽ tiếp tục lên án chiến tranh và tội ác của giặc Mỹ. Nhưng trước thảm cảnh này thì trách ai?. Tác giả chỉ nói lên nỗi lòng mình với đoạn văn sau: “Vậy là bên trong, vẻ yên bình trù mật của mảnh đất này, và đằng sau khối tài sản kếch sù của ông chủ tôi, đang ẩn chứa nhiều mờ ám và nóng bỏng đau thương của của bao nhiêu phận người thấp cổ bé họng như vợ tôi, chưa thể làm sáng tỏ. Làm sao mà mẹ em mất đất? Làm sao mà chỉ trong một sớm một chiều, ông chủ có thể tích tụ được ngần ấy đất đai, dẫn đến hôm nay, chính những người từng đổ xương máu, bao mồ hôi khai phá, giờ phải mang thân phận kẻ làm thuê, trên chính mảnh đất mình từng một hai chắc nịch của mình? Môt câu hỏi mà một thằng phu cạo mủ cao su ít học như tôi khó bề biện giải”

Không. Một câu hỏi ai cũng biết nhưng không thể trả lời.

ĐÔI DÒNG VỚI TÁC GIẢ.

Ông Vũ Thiện Khái kính mến.

Nhận được ba tác phẩm của ông tặng nhân ngày kỷ niện lần thứ 8-Đất Đứng, tôi đã đọc và có một vài cảm nhận về tập truyện: “Thao thức sông quê”. Theo tôi, qua tác phẩm này, ông đã nói lên tiếng nói của những người có số phận không may, thậm chí có nhiều oan ức nhưng vì thấp cổ bé miệng nên tiếng kêu than không thấu được trời cao. Và cái buồn lê thê buồn không phải là cái buồn dài vô tận của nhân vật Quang chèo đò trên bến sông mà là cái buồn dàn trải cho nhiều thân phận đang gánh chịu trong xã hội chúng ta. Ứớc gì tập truyện: “Sông Quê Thao Thức” được những người có thẩm quyền và có trách nhiệm đọc, ít nhiều người dân cũng đở khổ hơn.

Chúc ông nhiều sức khỏe.

Trần Văn Hờ

                                                                  

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN