PHẢI CHI HỒI ẤY… – Truyện ký Nghiêm Khánh

0
86

 

nghiêm khánhKhi lên mười hai tuổi mẹ mới kể cho tôi biết: “Ba con đã mất sớm vì bệnh roi cày, bây giờ gọi là bệnh huyết vận, lúc ấy con vừa được ba tháng tuổi. Hiện nay trở thành bệnh thông thường nhưng lúc ấy… Mẹ nghẹn ngào nói. Từ đó tôi không muốn mẹ đau khổ mẹ nữa, nên không bao giờ nhắc về ba.

Thời chiến tranh. Góa chồng sớm, mẹ tôi tất bật mua bán đồ đan lát, sản phẩm thủ công từ các bàn tay khéo léo của bà con vùng quê Đông Nam bộ, bán lẻ cho dân địa phương, cả bán sĩ chuyển về miền Tây sông nước vừa giúp ngoại nuôi các em và tôi ăn học. Tôi được gửi ở trọ nhiều nơi để đi học. Cả một thời tiểu học việc học thật vất vả, nhà xa trường mà chiến sự cứ xảy ra liên tục ở những nơi mà tôi theo học nên không lớp nào tôi học cũng dở dang. Bây giờ, khi nhớ lại, nhất là từ khi mẹ tôi mang bệnh cao huyết áp, rồi tai biến kéo dài cả chục năm ròng, rồi qua đời. Thời gian nầy mẹ tôi có lúc phải ở nhà một mình, đi lại khó nhọc, ăn uống thiếu thốn, cô đơn, tôi lại tự trách: phải chi hồi ấy mình…

Là góa phụ còn trẻ, mẹ tôi dù vất vả kiếm sống vì cảnh nhà nghèo xơ xác đến mấy đời. Trời phú, mẹ tôi rất khỏe, có chút nhan sắc, tính hiền lành, vui vẻ, biết đau trước những nỗi đau của mọi người. Bạn cùng thời với mẹ tôi nhiều người đều nói: “Cháu Trọng thừa kế “di sản” nầy của chị đó”. Mẹ tôi được nhiều người quý mến và cũng lắm ông ve vãn. Nhưng hầu hết đã có vợ con. Bởi hồi ấy việc dựng vợ gả chồng đếu rất sớ, kể cả nạn tảo hôn. Mẹ tôi không thích và rất lo khi có người đến nhà tỏ tình lại còn khoe của để mong mẹ tôi tham lam mà sụp “bẫy tình”. Tôi không thể nào quên, nhiều lần mẹ tôi bệnh nặng, mấy cậu và dì buộc lòng nhờ xe của các ông ấy, đưa mẹ tôi đến y tá hoặc thầy lang khám chữa bệnh cho kịp thời, vì đường đi lại hồi đó khó khăn, cán võng đưa đi bộ sợ mẹ tôi không chịu nổi.

Đi xe phải trả tiền. Mẹ và ngoại cương quyết như thế, nhưng các ông chủ xe Lại còn nhân cơ hội thường xuyên ghé qua nhà thăm mẹ tôi. Đặc biệt, ông y tá giỏi nhất lấy lòng cả tôi bằng những lời nói khẻ làm tôi bức bối cả đời: “…Kêu chú bằng ba đi chú sẽ trị cho mẹ cháu mau lành bệnh…” hay “…con về với bà ngoại, để mẹ ở lại chú chăm sóc cho mẹ mau khỏi bệnh…”. Mỗi lần như thế tôi la bài hãi về lời nói của ông trước mọi người: “…ông xấu lắm, giữ mẹ tôi lại hả, mẹ ơi! Bà ơi! Con không chịu. Con không chịu đâu…”, làm ông xấu hổ giận ra mặt. Mẹ tôi đang thiếp trên giường bệnh, mặt mày nhăn nhó cũng gắng ngồi dậy bảo với tôi: “…con đừng …hỗn với…. bác nhe”. Tôi nghĩ mẹ mình bênh ông ấy nên càng bực tức nhưng không dám bỏ mẹ ra ngoài. Nhiều lần sau đó mẹ tôi phải đi khám bệnh một mình bằng xe ba gác. Tôi luôn bị cậu dì cấm không cho đi theo. Có lần tôi khóc thê thảm vì sợ ông y tá cướp mất mẹ mình. Chuyện có vậy mà mãi thấm đẫm trong ký ức tôi.

Lên lớp năm tôi có nhu cầu đi xe đạp đến trường, đoạn đường dài mươi cây số. Tôi theo tỉ tê suốt với mẹ đòi mua xe. Dì Sáu quê ở Vĩnh Bình, người hàng xóm lên mua đất xây nhà kề nhà mẹ tôi cùng một năm, thấy mến mẹ con tôi, dì bảo: “…em cho chị mượn chiếc xe đạp đầm bằng Inox để cháu đi…”. Mẹ tôi ngần ngại: “ Cám ơn dì Sáu. Để vài tháng nữa tôi sẽ mua cho cháu. Tôi để dành tiền sắp đủ rồi”. Dì tiếp lời: “ Chị an tâm. Giữ vốn mà làm ăn. Khi nào khá rồi hẳn mua”. Hồi ấy nghe nói loại xe nầy nhiều tiền lắm nhưng không rõ bao nhiêu. Cả ấp chỉ mỗi gia đình dì có được hai chiếc. Nhà dì khá nhờ nghề làm vàng xi bán rất đắt hàng. Thu nhập hơn những nghề khác. Nhiều người trong xóm nói như thế. Có một chiều, tôi chạy xe đạp lên nhà người bạn mượn sách đọc. Để xe bên đầu hồi, không khóa. Cặm cuội đọc sách mãi, lúc ra về phát hiện xe bị mất. Tôi không dám về. Đến khuya cả nhà đổ nhau đi tìm. Chợt nhớ tôi xin lên nhà người bạn tên Thi ở xóm trên, mẹ tôi tìm đến nhà người bạn đón tôi về. Biết chuyện, chồng dì Sáu xót của lớn tiếng mắng nhiếc: “…chị biết chiếc xe ấy bao nhiêu tiền không? Mua bán như chị cả đời chưa chắc đã sắm được? Ông quay sang dì la thật to: “Bà nữa. Xe như vậy mà dám đưa cho thằng nhỏ đi…có thương thì mua xe đạp thường cho nó. Tui không biết. Bà làm sao thì làm, một tuần nữa phải có chiếc xe khác cho tui đó…” rồi bỏ đi.

Cả hai mẹ con run rẩy chưa biết phải làm gì. Thấy mẹ con tôi sợ hãi, lấm la lấm lét nói năng ngọng nghịu, dì thương tình không trách gì, ôn tồn nói với mẹ tôi: “Thôi chị Năm để đó đi khi nào khá lên mua trả cho em cũng được. Để em thuyết phục với ông nhà em cho. Coi vậy chứ không đến nỗi nào đâu!? Lỗi là do em, vì thương chị mới cho mượn, chị nào có muốn vậy đâu mà chị buồn”. Mẹ tôi cám ơn dì rối rít. Nói vậy rồi chứ dì có đòi mẹ tôi bao giờ. Mẹ tôi dành dụm được ít tiền, nhiều lần mẹ tôi xin dì cho biết giá chính xác để đền, dì nhẹ nhàng bảo: “ Thôi chị để tiền mua cho cháu chiếc xe đạp mới để đi học, thư thả rồi tính”. Lâu ngày dì nói: “Nhà em cho cháu đó, em không lấy tiền nữa đâu”. Mẹ tôi nài nỉ: “Dì thương cháu nói thế chứ tôi không trả tiền coi sao được. Ít nhiều gì dì lấy cho mẹ con tôi nhẹ lòng”. Dì vui vẻ nói: “Mấy ngày sau đó, nhà em bảo, hôm ấy, vì giận em nên lớn tiếng với chị Năm. Nghĩ thương chị ấy quá”.

Những năm cuối thập niên 70, phải tiết kiệm lắm mẹ tôi mới dành được tiền trả cho dì, nghe nói vậy mẹ tôi đành chịu. Mấy hôm sau đi mua chiếc xe đạp hiệu “Peugeot” hàng nháy của Pháp cho tôi. Mang xe về đến nhà, tôi mải miết săm soi nên chưa được chạy thì trời sụp tối. Sáng hôm sau chiến trận xảy ra tại khu vực nhà thương cách nhà mẹ tôi mấy mét. Nhà cửa dân cư trong xóm cháy thành tro bụi. Tôi dại chỉ tiếc chiếc xe đạp, không quan tâm gì đến sự khổ tâm của mẹ tôi và mọi người. Có dịp, nhiều ông mang đến cho xe đạp, cũ có, mới có. Ông Tư xe lam nài nỉ: “Cô Năm nhận để cháu đi học. Tội nghiệp cháu đi đường xa vất vả quá”. Mẹ tôi: “Cám ơn anh nhiều. Từ từ anh à. Khi nào cần tôi nhận. Anh thông cảm mang về cho”. Với tôi thì cương quyết không chịu. Thấy nhiều người nhiệt tình, muốn giúp đỡ lúc hoạn nạn. Mẹ tôi chỉ nhận gạo, thực phẩm với cái nghĩa cứu trợ. Cầm quà trên tay. Nhìn con như muốn tâm sự điều gì đó mà nước mắt đầm đìa không nói được. Tôi lại buồn trách mẹ tại sao nhận quà rồi lại dỗi bỏ nhà vào Tòa Thánh ở cùng mấy anh trốn quân dịch. Cả nhà đi tìm mấy hôm liền mới gặp. Bà ngoại dụ mãi tôi mới chịu về.

Nhà có mấy người cậu bà con quê ở Tháp lên trọ học. Bao nhiêu tiền mẹ cho ăn sáng tôi dành đổ xăng để được mấy cậu tập cho lái chiếc xe honda đời 67 còn rất mới. Tôi thích thú vô cùng. Biết được sở thích của tôi các ông mang xe đến nhà gợi ý tập cho tôi chạy mà không phải đổ xăng, nào là Suzuki M1, M2; Kawasaki, xe nam đời 67, 68, honda nữ… lúc nào cũng dựng trước nhà tôi. Tôi không ưng chiếc nào cả, đơn giản vì lẽ họ đang ve vãn mẹ mình.

Có lần người dì Tám chăm sóc, cơm nước cho tôi và bà ngoại thường ngày để mẹ tôi đi bán, bỗng dưng bệnh đột ngột, thấy dì cứ lấy hơi lên thở khó, bọt mồm bọt mép trào ra, dì lại đang mang bầu. Tôi không giúp gì được cho dì, đi bộ xuống nhà của cậu hai xa gần năm cây số để cho hay, thay vì gọi báo với hàng xóm. Lớn lên mới biết mình quá dại đến vậy. Được tin dữ, cả nhà cậu, anh chị em cùng đạp xe lên nhà mẹ tôi để xem sự thể thế nào. Hàng xóm cho biết ông hai On, trong số đàn ông đeo đuổi mẹ tôi, vô tình biết được. Ông chạy tìm và gặp mẹ tôi đang đi mua gom đồ nan ở quanh chợ Long Hoa, chuẩn bị cho chuyến buôn sắp tới ở miền Tây. Ông ấy cùng mẹ tôi đưa dì đi nhà thương. Nghe kể. Tôi tưởng tượng ông ấy cùng mẹ tôi đi chung là mặt mình dầy lên. Tôi cùng mấy anh chị tìm ra nhà thương tỉnh. Hì hụi đạp cả chục cây số, hụt cả hơi. Vừa đến nơi, thấy chiếc xe Mazda 1500 đang còn đậu trước phòng cấp cứu tôi đã nghe trong người tức tưởi. Chiếc ô tô 9 chỗ ông ấy mới com-măng mới toanh, có màu xanh thật đẹp. Nhưng tôi thấy nghèn nghẹn. Nhất là khi vào đến phòng cấp cứu thấy các y bác sĩ đang giúp mẹ tôi và ông ấy loay hoay chăm sóc, lau nước bọt, đờm trong miệng cho dì tôi cứ trào ra liên tục. Tôi lặng lẽ ra ngoài đi bộ nước một đến tối mới về tới nhà. Cả nhà một phen lại nhọc nhằn tìm tôi.

Hôm ấy chắc là giận quá, mẹ đánh tôi mấy cái vào mông tôi, miệng luôn than: “Con ơi! Là con ơi! Sao con mãi làm khổ mẹ vậy hả con…”.Tôi không nói gì nhưng ra mặt sừng sộ với mẹ. Cậu tôi thét: “Lấy roi đánh cho nó một trận, con gì mà bất trị, không biết chi chuyện phải quấy, lễ phép với người lớn”. Tôi tủi thân như bị hà hiếp, nấc lên vài tiếng rồi lại bỏ đi. Cậu tôi nói với theo: “Cho nó đi luôn đi”. Dì tôi chết. Ai cũng bận bịu. Mẹ tôi không nhắc nhở gì đến con. Anh con cậu tôi tìm tôi về để tang cho dì. Tôi buồn vô kể vì mất đi bà mẹ thứ hai, người lo cho tôi từng miếng ăn thức uống, trực tiếp dạy dỗ tôi thời còn bé. Dì cũng không thích những người đàn ông đến với mẹ tôi. Trong nhà, chỉ có dì là người thương và hiểu tôi nhất. Tôi nghĩ vậy bởi dì hay bênh vực, tận tình chăm sóc cho tôi.

Chuyện như thế xảy ra nhiều năm. Tôi bỏ đi nhiều lần riết thành thói quen. Không còn là nỗi lo toáng lên của những người thân. Có lần tôi đi xa, xin làm cho hãng ô tô của gia đình người bạn, để chủ sai vặt mấy tháng hè, chỉ vì nghe tin từ trong họ hàng, bà ngoại tôi sẽ gả má tôi cho một người đàn ông nhiều tuổi hơn má, chưa từng có vợ. Người lại độc mồm nhỏ to: “ Mầy là thằng con nuôi phải đâu con ruột mà bắt ai cũng cưng chiều…”. Tôi phản đối kịch liệt nhưng thầm tin là thật, nên xa lánh mọi người, dù mẹ và dì tôi nhiều lần giải thích chuyện phải quấy tôi đều không nghe.

Biết tôi thích trẻ em, từng giữ con giùm cho nhiều người hàng xóm, để con người ta té hay gặp đứa nhõng nhẽo, mách lẻo nên tôi luôn bị đòn oan. Vậy mà thấy trẻ con là tôi lao vào bồng bế bằng được. Nên có người nhỏ nhẹ dụ “Để mẹ lấy chồng, có em cho con bồng”. Một chị trong nhà cậu, không biết mẹ tôi hoặc bà ngoại có nói hay không, không rõ, nhưng cùng nhau bảo tôi: “Để mẹ lấy ông Tường đi. Ông ấy giàu có sẽ cưng chiều mẹ con em nhiều”. Ý mẹ tôi chắc cũng muốn có nơi nương tựa để không phải bận bịu đối phó hằng ngày trước mấy người đàn ông đeo đuổi làm bận bịu, nên mẹ có vẻ thuận tình. Khi nghe nói và biết như vậy tôi không cự nự ngay, lại bỏ đi biền biệt. Lần ấy tìm được tôi về. Tôi ấm ức không chịu nổi, luôn tìm cách chống lại cho hả dạ.

Một đêm tối trời. Tôi la hét vang dậy cả nhà…có ai đó lên tiếng bảo nhau: “Nó lên đồng…chị năm ơi!,..coi kìa…người nó ngả nghiêng, hai mắt nhắm nghiền, tay chân múa máy luôn”, mẹ tôi thì thào khẩn khoản: “Xin cho biết ai mượn xác con tôi vậy? Xin cho biết danh tính. Hãy buông tha cho con tôi, tôi nguyện đền ơn”. Tôi xưng danh là một vị quan thời tam quốc bên Tàu: “Ta là Quan Thánh đế quân đây. Thấy thằng đệ tử buồn phiền ta ghé qua thăm nó đây….”. Xưa dân mình hay thờ Quan thánh khắp nơi đình chùa, ngay cả trong nhà ở. Nghe tôi lớn tiếng với danh xưng Quan Vân Trường, vừa khuyên, vừa dọa mẹ tôi và có hai yêu cầu: “Một là, con của thị nữ còn nhỏ lắm không được lấy chồng bỏ bê nó, mấy người đàn ông không có ai thật thà cả. Yêu cầu thứ hai: thằng nam của thị nữ là chân tướng, chỗ dựa của ta, nếu thị nữ hắt hủi nó ta sẽ mang theo về trển dưỡng dục, dạy bảo nó nên người hữu dụng giúp ích cho đời sau nầy…thị nữ có nghe rõ không? Tôi dõng dạc phán. Mẹ tôi van lạy năn nỉ ông Quan Thánh hết lời, xin hứa sẽ làm theo lời ông dạy.“…Thị nữ hứa thì phải giữ lời, không được trái ý ta đấy nhé!…ta đi đây.” Dì tôi kể: Trước khi xuất hồn tôi lòng lộn mấy vòng, rồi nằm vật ra trên đất như người chết. Mẹ con đỡ dậy với ánh mắt thương xót vô vàn. Cả nhà nhìn nhau bỡ ngỡ không biết hư thực thế nào. Tôi thầm đắc ý.

Thực ra do biết mẹ tôi là người mê tín dị đoan, vì nhớ thương chồng mất sớm, mẹ tôi hay đi đến các nơi có người hành nghề bói toán, lên đồng gọi là quan trạng từ 1 đến hơn 12 vị, ở nhiều nơi trong tỉnh, để gọi hồn ba tôi. Hầu hết những nơi ấy tôi đã được đi cùng với mẹ. Họ biết tôi ghét và không tin nên hay nói thẳng với mẹ tôi: “Thằng nam không tin đâu. Nó có Quan Thánh dựa nên không nghe ai khuyên lơn gì được đâu”. Tôi để ý và nhớ rõ nên bắt chước. Đêm ấy giả lên đồng từ danh xưng là Quan Thánh Đế Quân. Chắc là thật giống nên người nhà rất tin. Từ đó ngoại tôi phải dùng hạ sách, cấm triệt để không cho ai đến nhà như trước nữa. Tôi rất hả dạ. Tự cho mình có một quyền lực tha hồ làm khổ cả nhà.

Được nước, lần khác tôi đi theo ông thượng sĩ già bên an ninh quân đội Sài Gòn. Ông nầy cũng để ý mẹ tôi nhưng không có thời gian nhiều đến nhà chơi thường, vả lại nhiều người nói vợ ông dữ như chằn. Biết tôi hay bỏ nhà đi, vì không muốn để người khác thân với mẹ tôi, cũng không muốn mẹ tôi có chồng. Ông dụ: “Đi với chú vài hôm nhe”. Tôi hỏi đi đâu: “Đi chơi” Lúc nhỏ nghe là mê li, tôi đồng ý. Ông chở tôi đến hết đồn nầy đến đồn khác trong tỉnh, tôi phải bỏ học gần cả tuần. Ông vô tình để đàn em cho tôi hít bạch phiến. Tôi bị xốc, ói đến mật xanh. Nhiều tay anh chị bấy giờ có người biết, thương hoàn cảnh của mẹ con tôi, dọa giết những ai để tôi sa đọa vào con đường nghiện ngập.

Mẹ và ngoại tôi biết được sỉ vả ông thượng sĩ ấy đủ điều: “Mầy là thằng vô lương tâm. Mầy không phải là con người. Ai đời con nít nhà người ta mà mầy dụ dỗ, bắt cóc đi…hỏi mầy có đạo đức có tình người chỗ nào…”. Ông ta giận dữ cho lính bắt mẹ tôi vào đồn. Đòi bỏ tù mẹ tôi vì tội phỉ bán sĩ quan Việt Nam cộng hòa. Mẹ tôi ức lòng, không sợ mà còn phản công tiếp tục bằng những lời lẽ khiếm nhã. Mấy ngày liền nhà như có đám ma. May thời bà tôi nhờ được người quen với sếp lãnh mẹ tôi ra. Mẹ tôi hú hồn, hoảng hốt ôm con vào lòng mà nước mắt ràn rụa. Mẹ khóc suốt sưng húp đôi mắt. Bà ngất đi nhiều lần. Sinh bệnh. Người tiều tụy gầy nhom. Tôi cũng buồn da diết. Nghĩ ngợi lung tung. Từ đó mẹ tôi chỉ dạy con bằng nước mắt.

Bấy giờ thấy bà và mẹ quá khổ tâm vì tôi, tôi đã biết lo và thương mẹ, sợ mẹ chết, nhưng vẫn cứ muốn mẹ xa lánh tất cả những ai có ý định đến với mẹ. Từ ấy mẹ tôi cũng không còn tiếp xúc bất kỳ đàn ông nào có ý với mình. Bà tôi còn dõng dạc nói: “Từ nay đừng hòng thằng nào bước tới nhà nầy nữa”. Tôi đã thỏa thích yêu sách của mình. Vì thương con mẹ tôi đã dành cả khoảng đời còn son trẻ để lo cho tôi và ngoại già bệnh tật, cậu dì còn nghèo khó. Mong tôi học hành đến nơi đến chốn. Nhưng tôi cũng chỉ học đến lớp mười hai. Chưa kịp thi tú tài thì đến ngày giải phóng miền Nam. Tôi bỏ học xin đi làm.

Những ngày nuôi mẹ bệnh nặng. Vợ chồng tôi vẫn phải đi làm, các cháu đi học. Các em con của dì, cậu thay nhau nuôi. Một nghĩa tình có trước, có sau với mẹ tôi khó tìm được trong đời. Được thời gian cấp cứu và điều trị thôi, rồi ai về nhà nấy lo cuộc sống riêng tư. Thế là tôi phải bận rộn mấy năm liền. Cuộc sống lại khó khăn. Con cháu không thể nghỉ việc ở nhà chăm mẹ, chăm bà cho đúng nghĩa và đầy đủ được. Mỗi sáng ra lo mọi việc nhà. Cơm nước cho cả nhà, chăm mẹ ăn. Lúc khỏe mẹ ăn nhiều. Lúc không khỏe ăn ít và chậm. Tôi vì lo sợ bị chấm công đi trễ… Nên nhiều lúc hối thúc: “Mẹ ăn nhanh đi để con còn đi làm- Trễ rồi”. Mắt mẹ thoáng buồn nhưng không nói sợ phiền con, tôi tỏ ra buồn mẹ không cố mà ăn cho khỏe, để con cháu phải bận bịu. Đây là điều tôi thắc thỏm cả đời vì mẹ ăn trong cảnh chán ngán vì bệnh tật, không muốn ăn, không thể ăn vội hoặc ăn trong tâm trạng không ngon, không khỏe. Giờ qua sách báo, phương tiện truyền thông biết chương trình về chăm sóc sức khỏe người bệnh, người già… mới thấy mình vô cùng có lỗi và thiếu sót trong chăm sóc mẹ già, bệnh tật và tự trách: “…mầy tệ lắm Trọng ơi!…”. Tôi càng thấm thía chuyện xưa, nếu tôi đừng ích kỷ thì mẹ tôi đâu đã sống những ngày tháng đau khổ và cô đơn lúc về già. Tất cả đã muộn. Tôi lại nghĩ phải chi hồi ấy… để mẹ đi bước nữa có khi cuộc đời mẹ tôi đã khác, có người bầu bạn lúc cuối đời. Nỗi day dứt ấy mãi đeo đẳng tôi gần cả cuộc đời.

Dù Trọng thường hay kể cho đám bạn già chúng tôi nghe chuyện buồn vui về mẹ trong nhiều tâm trạng khác nhau nhưng đa phần là hối hận…trong khi chúng tôi vẫn thường bảo nhau: “Nhìn thằng Trọng nuôi mẹ nó bệnh nằm liệt giường mấy năm liền mà không chút than vãn. Chắc gì tụi mình làm được”. Ai ngờ đâu mỗi người đều có nỗi khổ riêng. Thảo nào, ông bà ta chẳng hay dạy bảo nhau: “Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh”.

 Nghiêm Khánh

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN