Nhớ Nguyệt Lãng – Kỷ niệm 4 năm ngày mất – Thái Quốc Mưu

0
51
nguyệt lãng
Lời giới thiệu:
 
Nguyệt Lãng tên thật Nguyễn Văn Thẩm. Nhà thơ Hoa Mộc Lan gọi đùa: “Người thì mập ù mà lấy bút danh mỏng dánh”.
 
Nguyệt Lãng làm báo, viết văn, làm thơ trước tháng 4-75. Hiện nay đã mất nhưng văn và thơ ông đã đi vào lòng bạn đọc.
Ông bán chữ nghĩa, nhưng không bán danh dự. Nghèo nhưng vẫn giữ chí khí kẻ sĩ.
 
Chúng tôi gặp nhau nhiều lần, bản chất thật của ông hoàn toàn khác biệt với giọng thơ “cà tửng”, khi ông châm chọc thiên hạ.
 
Thơ Đường của ông là tuyệt bút, dường như không đối thủ. Chữ nghĩa chân quê mà rất mới, lạ, giàu hình tượng và ý tưởng.
 
Ngoài đời Nguyệt Lãng nói năng nhỏ nhẹ, khôi hài, hay “khều” nhẹ đối tượng.
 
Nguyệt Lãng là người con đại chí hiếu, tuổi bảy mươi, nhưng khi mẹ nằm nhà thương ông đút từng miếng ăn, miếng nước, tối trải chiếu nằm dưới đất bên giường mẹ để chăm lo.
 
Nguyệt Lãng quê ở Bình Đại, Bến Tre. Sau tháng 4/75, trôi về vùng kinh tế mới Minh Hưng, Bù Đăng, Bình Phước.
 
Cuối năm 2012, anh phát bạo bệnh (ung thư bao tử). Sau hai năm chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, ngày 1-1-2014, nhà thơ Nguyệt Lãng đã ra đi để lại nỗi tiếc thương trong lòng bè bạn và những ai biết đến thơ anh.
Trang VHNT Đất Đứng cũng đã phát hành tuyển tập số đặc biệt kỷ niệm 1 năm ngày mất của nhà thơ.
 
Nguyệt Lãng, tôi cùng hai bào đệ Văn thi sĩ Kha Tiệm Ly (Thái Quốc Tế) và Soạn giả cổ nhạc ALý Phượng Tuyền là bạn chí thân của anh. Chúng tôi tự nghĩ không thể để thơ anh bị mai một và phải có trách nhiệm phổ biến một số bài thơ anh đến quần chúng.
 
Xin quý độc giả xem đây là việc làm chân thành của chúng tôi dành cho Nguyệt Lãng – người bạn tài ba, hiền hòa của đã sớm bỏ chúng tôi về cõi vĩnh hằng.
 
Picture 025
 
RAU ĐẮNG ĐẤT
Nguyệt Lãng
 
Những bài thơ tiêu biểu:
 
Trời mưa nước ngập ruộng sâu
Cá đồng về hội rủ nhau nhảy hầm
Mưa là mưa lũ mưa dầm
Hẹn mùa, rau đắng mọc quanh thềm nhà…   
 
Tộ cá rô kho,
Tô canh rau đắng…
Đượm làm sao tình nghĩa nhà quê
Nhớ làm sao thuở còn bé bỏng
Nhà ở xa trường qua mấy nhịp cầu tre
Bấm ngón chân chai bờ đất ruộng
Trời mưa trơn trợt lối đi về…
 
Tới cổng,
Mùi cá kho đã dậy
Lạnh cóng tay, cơn đói réo trong lòng
Em với chị vừa đi vừa chạy
Cùng tranh nhau kịp để… ngồi mâm!
 
Em ngồi bên cha,
Chị ngồi cạnh mẹ
Bới chén cơm đầy và đua cho lẹ
Hạnh phúc reo mừng như tiếng chim ca.
 
Cá rô non nấu canh rau đắng đất
Là tình thương bồi đắp mãi không tròn
Là những buổi cha dầm mưa khai ruộng nước
Quần vo cao,
Áo bà ba rách nách
Điếu thuốc vồng ngấm nước tắt, lạnh run…
Tay rổ xúc
Vai đeo đụt mướp
Lũ đĩa trâu thèm máu hút bầm chân!
 
Là những buổi trời vui mây dẫn gió
Trôi lang thang không biết đến phương nào
Chiều dâng hương cuồn cuộn tiếp chân nhau
Trên ruộng thấp bầy cò bay trắng xoá
 
Những khi nhàn hạ
Mẹ nhổ rau đắng đất
Đốt lấy tro lắng nước gội đầu
Gió thật hiền lay lá trúc lao xao
Mái tóc chị dài êm như sóng mạ
 
Mẹ xăm xoi bắt chí
Mẹ chăm chút chải gầu
Xức dầu dừa óng mượt
Cột đuôi gà nhỏng nhảnh đằng sau
 
Mẹ vuốt tóc chị trầm trồ khen đẹp
Ôi! dòng tóc hiền thắm nghĩa cù lao!
 
Mười lăm năm,
Thời gian con đủ lớn
Và tóc mẹ trải màu bông bưởi bông cau
Cha lưng còng như tre gặp gió
Cho lòng con nặng một niềm đau!
 
Chị theo chồng về nơi xứ lạ
Em linh đinh rày đó mai đây
Thuở nhỏ mưa dầm băng mấy ruộng
Bây giờ mưa ngại bước chân đi!..
 
Chị về bên ấy,
Ơ hờ gương lược biếng xăm xoi
Tóc chị rối nù hong mùi khói bếp
Gió dẫn mây trôi nhìn chỉ ngậm ngùi
Đường về biệt mù
Chồng con bận bịu,
Nơi quê xưa thung đường ươn yếu
Mà nhớ thương như thả tóc lên trời…
 
Em lang thang đầu sông cuối bãi
Thèm một bữa cơm dưới mái gia đình
Nhưng dĩa cá kho mặn mùi nhân ngãi
Tô canh ngày nào cũng đắng vị công danh!
 
Tộ cá rô kho,
Tô canh rau đắng…
Đời nhiều lận đận
Nên mất rồi thời thơ dại dấu yêu
Đã hết rồi thời tan học nghêu ngao
Câu hát cũ bây giờ nghe nuối tiếc
Khi mây trắng lưng trời bay mù như tóc
Gió vờn trên lá cỏ
Và đường đời sự nghiệp trắng đôi tay…
 
Đêm nhà trọ chập chờn giấc điệp
Tình hoài hương ray rức ngủ không yên
Tiếng võng ai kẽo kẹt
Giọng ru hời buồn điệu Vân Tiên:
“… Trời mưa nước ngập ruộng sâu
Cá đồng về hội rũ nhau nhảy hầm
Mưa là mưa lũ mưa dầm
Cho rau đắng đất mọc quanh thềm nhà!”.
 
Mười lăm năm,
Bao lần gió nam non thổi lòn hang dế
Em đi từ ấy,
Chân ruộng đồng chưa mòn gót phiêu linh
Ăn quán ngủ đình,
Nước sông gạo chợ…
Bao lần đau những cuộc tình tạm bợ
Bao nhiêu lần làm khách lữ qua sông!
Chợt giựt mình, trẻ nhỏ gọi bằng ông
Bỗng nghe nhớ về cố thổ…
 
Nhớ rau đắng nấu canh
Nhớ con cá rô kho tộ
Nhớ chị tôi theo chồng năm lên mười sáu
Tóc cột đuôi gà… khóc lúc vu qui!
Chị trách hờn… cha mẹ đuổi chị đi
Thân con gái ở nhà ngoài, ăn cơm nguội.
Con chim đa đa kêu đâu bờ bụi
Thương cha mẹ già ươn yếu chẳng ai lo…
… Chị gói một nắm tro
Dặn em gội đầu cho mượt
Xức dầu dừa cho mướt
Đừng để mủn vùa khô khốc rễ tre..!
 
Mười lăm năm,
Mới hiểu lời chị dặn
Thì đã bao lần mấy dề rau đắng
Mọc quanh thềm nhà… trỗ bông trắng rồi… khô!
Đã mấy mùa nước ngập chân đê
Con cá rô mấy lần ra sông lớn
Cha không còn dầm mưa thăm ruộng
Không còn ai giành nữa chuyện… ngồi mâm!
Bao năm dài không một lời thăm
Thôi thì kể như nước sông chảy ra biển cả
Thằng em nhỏ tóc vẫn chừa ba dá
Như mủn vùa mẹ gọt, lúc lên ba?
 
Con rô đồng ôm trứng tháng mưa
Chờ đến lúc thả con vê ruộng
Chị ngồi nhớ mỗi chiều mỗi sớm
Thả nỗi buồn theo lọn tóc bay…
 
Một hôm chị ngồi ngạch cửa bấm lóng tay
Rồi chị khóc một mình…! Không đếm nữa…
Buổi trưa nồng gió nồm ru nắng hạ
Khói đốt đồng làm mắt chị cay.
 
Từ ngày em làm mây
Lang bạt giang hồ khắp ngã
Bặt tin nhạn cá
Có còn nhớ đất, thương quê?
Như ngày lặng lẽ ra đi
Em âm thầm trở lại
Vừa thương em, chị vừa ái ngại
Ba mươi năm, như thể một ngày…
Vẫn rám đen như ngày trốn học
Đi mò cua bắt ốc
Giũ trứng kiến vàng câu con cá rô non!
 
Chị ngồi ngạch cửa liếc mắt nhìn em
Đứa em xưa có gì ngờ ngợ
Quần áo bận nửa quê nửa chợ
Chút giang hồ, chút vị quê hương!..
 
Chị ngồi kế bên…
Nhìn em ăn cơm mà khóc
Lại bấm lóng tay, lại chùi nước mắt.
Cũng tô canh rau đắng đất
Cũng tộ cá rô kho…
Lòng chị như cục than vùi dưới lớp tro
Gió đòi khêu ngọn lửa.
 
Chị lại ngồi ngạch cửa
Biểu em xích lại gần hơn
Chị ngập ngừng đưa ngón tay run
Lượm sợi tóc sâu ở trên vai áo.
Bây giờ chị gọi em bằng cậu
(Lẽ ra tiếng ấy,
            phải kêu từ lúc chị theo chồng..!)
Ôi! con đò đã xa biệt bến sông
Chị cũng thấy mình ngượng nghịu!
 
Sợi tóc sao bạc phếu?
Đâu phải tóc sâu,
Mà vì bao lâu mưa dải nắng dầu
Qua bao tháng ngày luân lạc
Hai chị em mái đầu đều bạc
Hai chị em cũng già như nhau..!
 
Nhớ ngày nào té nước cầu ao
Hát khúc đồng dao cùng cười khùng khục…
“… Chị em (người) ta như hoa dâm bụt
Chị em mình như cục… cức trôi!
Cục cức trôi, người ta còn vớt
Chị em mình như ớt chín cây…”
 
Không hẹn mà cùng bấm lóng ngón tay
Hai số dư không biết đường nào đếm..!
Em muốn kể quãng đời lận đận
Ba mươi năm dài bao nỗi nhớ mong.
 
Ngày về nhà chị
Ngủ đêm đầu tiên
Nghe rạo rực không thể nào yên giấc
Dưới mé thềm rêu mọc đầy rau đắng đất
Con dế mèn thôi kể chuyện phiêu lưu
Nén tiếng thở dài
Sợ rung giọt đèn lu
Muốn được ngủ say trong vòng tay chị
Lời trách móc sao y như mẹ
Cái hồi còn thơ trẻ bên nhau!
 
Ai buộc đời mình vì một cọng rau
Ai khôn lớn qua cầu đi hút bóng
Nhìn quãng đồng xa một làn khói trắng
Cũng bâng khuâng nhớ lắm quê mình
Bỗng nghe thèm rau đắng nấu canh!                             
 
Biết tìm nơi đâu khung trời kỷ niệm?
Những chiều hoàng hôn tím
Những buổi dầm mưa đi học lạnh run!
Những buổi mưa dầm
Cha giắt đụt mướp trên lưng
Bắt con cá đồng ngược nước
Bên chái hè mưa tạt
Mẹ hái từng cọng rau đắng đất nấu canh.
 
Để nỗi nhớ vây quanh
Tóc trên đầu đã bạc
Chân giang hồ bỗng dưng chùn bước
Nghe giữa hồn rau đắng đất mọc xanh!
 
Nguyệt Lãng (1972)
 
 
XEM SƯ CẢ CHƠI CỜ
 
Sư nói, đốn tu thì đốn ngộ
đời người như ngủ trọ gốc hoè
bây giờ xăng cộ lên cao quá
sư mỉm cười chấp cả đôi xe!
 
Sư nói, tiệm tu là tiệm ngộ
vội vàng chi mà chạy lanh chanh
dưỡng quân ba năm dùng một bữa
sư khoát tay, con mã để dành!
 
Sư nói, chấp nê là chấp khổ
loanh quanh trong vô lượng hải hà
nếu khi đại pháo canh tọa độ
có ích gì, sĩ tượng quanh ta
 
Sư nói, ác lai thì ác giả
bước qua sông trong lúc cùng đường
màu lau trắng nhuộm dòng Dịch Thủy
đâu có cần con chốt mang gươm
 
 
Sư nói, thiện tâm thì thiện ngộ
đời an nhiên ắt sống vô lo
cuộc cờ sấp ngửa thêm ván nữa
sư loay quay còn khách ngủ khò!
 
 
MẸ QUÊ
 
Hạt gạo cõng đắng cay đời mẹ
bàn chân chai nứt nẻ phèn chua
như rẽ mạ đống sâu mẹ cấy
Các con thàng gié lúa đi xa.
 
Làm chiếc lá theo dòng phiêu bạt,
đời gian nan cơm áo gạo tiền.
nhánh lúa mọn làm đòng mẩy hạt
cũng xa rời gốc rạ thiêng liêng.
 
Mỗi một năm tìm về chốn cũ
đủ hay chưa nợ đất vô cùng…?
huống hồ chi có năm không nhớ
quay trở về đồng đất quê hương
 
Tôi biết tôi là người bạc bẽo
hạt giống gieo vay mượn đất người
đã lâu lắm chẳng về thăm mẹ
để bây giờ gié lúa mồ côi!
 
 
CON ĐÒ TUỔI THƠ
 
Nhà mình cách chợ làng xa
mẹ tôi gánh cải vượt ba quãng đồng
phải qua cả một con sông
nhỏ nhoi giữa chốn mênh mông… là đò!
 
Mỗi ngày hai lượt mẹ qua
còn tôi mấy lượt vào ra ngóng chờ
quà hàng tấm bánh mẹ cho
với tôi là cả tuổi thơ ngọt ngào
 
Bờ sông chẳng phải cầu ao
đò giang nước lũ dòng sâu đắm rồi!
những ngồng cải đứng mồ côi
mẹ tôi đi chợ. Và thôi! chẳng về…
 
Cuộc đời đẩy tôi xa quê
tôi đi mà cũng ít khi nhớ làng
chỉ còn một chiếc đò ngang
tôi mang theo mớ hành trang đời mình
 
Những chiều gác vắng buồn tênh
là tôi thấy luống cải xanh trổ ngồng
con đò chìm giữa mênh mông,
Mẹ ơi! đi chợ sao không đợi đò?
 
 
MỘT MÌNH VÁ ÁO.
 
Chiếc áo một ngày không hẹn, rách
vụng về sợi chỉ mấy đường may
cây kim sứt mũi đâm vào vải
những tiếng buồn thiu giữa ngón tay!
 
Con chim bìm bịp gù trong lá
ai giấu niềm đau ở cuối vườn
ta giấu niềm đau nơi mảnh vá
mảnh vá quàng như một vết thương!…
 
            
ĐẤT ĐẮNG
 
Ôm cuộc đất bao năm vẫn cực
được nồi khoai thúng lúa trần thân
nhớ mùa hạn bồn bồn rát ruột
thương cọng bìm chạy lũ hụt chân!
 
Mẹ gánh nước còng lưng tưới cải
cả đời chưa ra khỏi mương vườn
con khôn lớn sống nơi thành thị
ngày mỗi rời xa chốn quê hương.
 
Đất không thể níu chân người trẻ:
“cố giữ làm chi khổ tuổi già,
thôi hãy bán cho con làm vốn
bề gì thì đã có con lo!!!”  
 
Con thành đạt mẹ mừng khôn xiết
dù chẳng quen cuộc sống thị thành
mua mớ rau xanh mà xót ruột
tiếc mương vườn, thứ ấy quanh năm…
 
Đi đâu cũng thấy người xa lạ
cũng thấy ngùi thương cảnh dưới quê
tết nhớ mả mồ không ngủ được
ngồi xe hơi – chẳng có nơi về!
 
 
ĐÀN BÀ QUÊ LŨ
                 (Để thương những cảnh đời khốn khổ
                  trong cơn lũ miền Trung)
 
Lũ tràn ngập bến sông quê
núi cao một sớm đã về với sông…
chị tôi tất tả tìm chồng
biết đâu đất lấp hay dòng nước trôi?
 
Xuồng ghe cũng mỏi tay rồi
bàn chân nhão mấy vũng bồi phù sa…
ba ngày tìm xác không ra
chị tôi bỏ bữa cũng ba ngày liền!…
 
Xão bùn gạn chút niềm tin
cỏ cây, cát đá lấp chìm xác anh?
Núi non quay mặt đã đành
Con song giờ cũng trở thành lạ xa
Không còn xác để làm ma
chị tôi ngồi khóc đến loà con ngươi!
 
Thơ Nguyệt Lãng đầy ấp tình quê, tình ngườøi như thế, nhưng khi anh “khều” thì “đâm thẳng mũi nhọn” vào tim người khác:
 
 
VẶT LÁ MAI!
            (tặng Liêu Tiên Sinh  Thái Quốc Mưu)
Mặc lá còn xanh, mặc lá già
Tới giờ tớ cũng lật mầy ra
Bón dồn cho gốc giương chồi rễ
Tưới thúc cho cành ló nụ hoa
Nầy thế phong nghinh hình uốn éo
Kia tầng thác đổ nước tuôn sa
Nghề chơi tuy cực nhưng đành ráng
Để mấy ngày xuân mới đậm đà.
 
                
LẤY VỢ Ở TUỔI 73
     (tặng Liêu Tiên Sinh & Nghệ sĩ Sân Khấu, Điển ảnh Lý Bạch Huệ)
 
Mình có trầu cay, tớ có vôi
Đường tình ta sẽ bước chung đôi
Chớ chê ván mục thuyền trơ đáy
Đừng kể xe cùn lốp hết hơi
Rượu nhạt hâm lâu rồi nóng lại
Thịt bèo ướp khéo cũng thơm thôi!
Hai ta cùng đứng bên bờ vực
Còn tiếc chi sông chuyện lở bồi!..
 
 
VỀ THA LA
            (tặng Liêu Tiên Sinh & Nghệ sĩ Sân Khấu, Điển ảnh Lý Bạch Huệ)
 
Trên đỉnh Bà Đen nắng mới hừng
Chim chuyền còn ngủ dưới triền bưng
Đồng xa đang ủ rơm làm nấm
Xóm dưới còn mài mát chẻ đưng
Mấy mẹ lom khom phơi đậu đỗ
Một bà lọm khọm bán chè thưng
Nghe nàng (Lý) Bạch Huệ nằm ca cổ
Bỗng thấy Tha La đẹp quá chừng.
                                           
Nguyệt Lãng
 
                                                ***
 
Đọc thơ Nguyệt Lãng, tôi thở dài, tự ngán ngẩm cho mình! Muốn gác bút!
 
Một nhà phê bình đã viết: “Trong bốn mươi năm trở lại đây, tìm một nhà thơ có những bài thơ làm xiêu lòng người như Nguyệt Lãng “DƯỜNG NHƯ KHÔNG CÓ”.
 
Nhận định rất chí lý.
 
***
 
Nhà bình luận văn học, nhà thơ Châu Thạch – một người bạn văn học chưa từng hội ngộ Nguyệt Lãng, đã:
 
KHÓC NGUYỆT LÃNG
Châu Thạch
 
Ai đi qua vòm trời?
Trăng đêm nay lạnh lắm
Bạn tôi tên Nguyệt Lãng
Đã đi vào xa xăm
Võng thơ bạn để ai nằm?
 
Bút thơ bạn để con tằm nào giăng ?
Bạn về chốn ấy vui chăng
Cởi con hạt trắng mà thăm cõi trời
Đường trần tôi gọi, bạn ơi!
Chỉ nghe nguyệt vỡ sao rơi lạnh lùng
 Đêm giọt lệ khốn cùng
Tê trong lòng khóc bạn
Khóc cho người, khóc cho tôi vô hạn
Đâu rồi Nguyệt lãng giữa vườn thơ!
 
Chắc còn một cõi mộng mơ
Bạn ơi thì hẹn bên bờ lưu ly.
 
Ảnh kỷ niệm
 
 
Thái Quốc Mưu, Nhà văn, Nhà thơ, Nhà báo Nguyệt Lãng, bào đệ Thái Quốc Tế (Kha Tiệm Ly). Hai cháu của Thái Quốc Mưu, Lan Đài & Xuân Đài
 
Bài thơ RAU ĐẮNG ĐẤT của Nguyệt Lãng, Nhạc sĩ Bắc Sơn phổ thành ca khúc đã đi sâu vào lòng người: CÒN THƯƠNG RAU ĐÁNG MỌC SAU HÈ.
 
Nắng hạ đi
mây trôi lang thang cho hạ buồn
coi khói đốt đồng, để ngậm ngùi chim nhớ lá rừng
 
Ai biết mẹ buồn vui khi mẹ kêu cậu tới gần
biểu cậu ngồi mẹ nhổ tóc sâu, hai chị em tóc bạc như nhau
 
Đôi mắt cậu buồn hiu phiêu lưu
rong chơi những ngày đầu chừa ba vá miếng dừa
đường mòn xưa, dãi nắng dầm mưa
 
Ai cách xa cội nguồn,
ngồi một mình
Nhớ lũy tre xanh dạo quanh khung trời kỷ niệm
Chợt thèm rau đắng nấu canh
 
Xin được làm mây mà bay khắp nơi giang hồ
Ghé chốn quê hương xa rời từ cất bước ly hương
Xin được làm gió dập dìu đưa điệu ca dao
Chái bếp hiên sau cũng ngọt ngào một lời cho nhau
 
Xin sống lại tình yêu đơn sơ,
rong chơi những ngày đầu chừa ba vá miếng dừa
đường mòn xưa, dãi nắng dầm mưa
 
Xin nắng hạ thổi buồn để mình ngồi nhớ lũy tre xanh
dạo quanh, khung trời kỷ niệm
Chợt thèm rau đắng nấu canh …
 
Atlanta, USA. May 05, 2017
Thái Quốc Mưu

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN