NHÀ THƠ HƯ VÔ – “NÂNG GIỌT LỆ ÊM ĐỀM” – Châu Thạch

0
24

         Một chiều, tôi hận hạnh được nhà thơ Xuân Thao mời tham dự buổi ra mắt tập thơ của anh tại một nhà hàng tương đối sang trọng. Vốn là một con dế mới biết gáy nên tôi không quen biết ai trong giới văn nghệ sĩ tại Đà Nẵng ngoài Xuân Thao và Thế Lộc. Tôi ngồi lặng lẽ ở một góc bàn, nhìn quý vị quan khách lần lượt vào, bắt tay chào hỏi nhau thân thiện. Một vài vị chào nhẹ tôi, còn đa số thì như không thấy tôi ngồi đó. Bên cạnh tôi cũng có một người ngồi rất lặng lẽ. Anh ta có dáng dấp nho nhã và trầm tư. Thỉnh thoảng anh đưa máy ảnh lên chụp rồi lại ngồi yên lặng. Thế nhưng, khác với tôi, nhiều nhà thơ, nhà văn bước vào đều đến vồn vã chào anh trước. Họ gọi anh là Hư Vô. Có lẽ đó là bút hiệu của anh. Anh điềm đạm trả lời và chẳng thấy anh ưu tiên niềm nở riêng một người nào. Tôi nghĩ trong bụng, đây chắc là một lãnh đạo ngành văn hóa hiện nay rồi. Về nhà hỏi Thế Lộc, thì Thế Lộc bảo là không phải, Hư Vô chỉ là một nhà thơ thường dân.Tôi nghĩ, một nhà thơ thường dân mà được chào hỏi như vậy phải là một con người đặc biệt. Từ đó tôi có cái nhìn thiện cảm với nhà thơ đó. Hôm nay lại hân hạnh được Hư Vô gởi tặng tập thơ “tay nâng giọt lệ” là một niềm vui lớn đối với tôi.
       Xuất bản tập thơ với tựa đề “tay nâng giọt lệ, nhà thơ Hư Vô lấy ý từ hai câu thơ “Ta quì xuống giơ hai tay bệ vệ/Để xin nâng một giọt lệ êm đềm” của Bùi Giáng, được ưu tiên đặt nó trên bài “Thưa”, là lời tác giả thưa cùng bạn đọc, được in ở trang đầu tập sách. Như thế ta phải hiểu nhà thơ không bi thảm giọt lệ, nhà thơ nâng giọt lệ của mình hay của ai đó để nó được rơi êm đềm.
     Hãy đọc đại ý của một bài thơ để hiểu thêm về tác giả. Bài thơ có 16 câu, tôi xin rút gọn:
     

     Tay tôi nâng giọt lệ
     Tay tôi đ nụ cười
  

     Nụ cười làm tươi tắn

      Giọt lệ cảm hóa người

     Và một ngày nào đó
     Môi tôi thêm nụ cười
     Mắt tôi khô ráo lệ
     An nhiên giữa cuộc đời.
      (Giọt lệ và nụ cười)
     
     Hãy tưởng tượng, nụ cười và giọt lệ nắm song song trên đôi tay của thi sĩ. Để làm gì? Để thi sĩ biến hóa giọt lệ hòa nhập trong nụ cười. Cả hai sẽ biến thành viên kim cương trong vắt. Đó là bùa hộ mệnh đem bình an đến cho mình và cho nhân gian. Vậy thì, ước vọng của nhà thơ không phải chỉ làm thơ để gởi mình vào đó mà còn làm thơ để đem cái năng lực vô biên của thơ, cái tình yêu cả “lá xanh và lá vàng” cao cả của Thượng đế xóa nước mắt, bồi đắp nụ cười. Nụ cười ấy như là đóa hoa trên môi. Đóa hoa ấy thể hiện sự an nhiên trong lòng mình và trong lòng nhân loại.
      Vậy thì, thơ của Hư Vô không chỉ là từ cảm hứng của con tim yêu bình thường, mà còn là từ cảm hứng triết lý sống sâu xa, bắt nguồn từ cái tâm hư vô cúa Phật, cái triết lý vô vi của Lão và sự khải thị hóa gii đau thương của Đấng tối cao. Cái tâm ấy thật ra tôi thấy lần đầu tiên, nó là của Hư Vô, vì từ xưa đến nay, nhà thơ thì khóc cho đau thương, cười cho niềm vui, nhà tu thì dạy làm lành để vơi đi khổ đế, mấy ai lại bày làm thơ để “Môi tôi thêm nụ cười/ mắt tôi khô ráo lệ” nghĩa là làm thơ để hóa giải niềm đau. Biết đâu (nói vui) Hư Vô sáng tạo một “đạo thi ca” cho riêng mình!!!
    
     Từ quan niệm về thơ một cách siêu việt đó, đưa đến quan niệm về người thi sĩ trong tâm hồn Hư Vô có khác. Cũng giống như mọi nhà thơ, Hư vô cho rằng , thi sĩ như con ve “mười năm vùi trong đất/ đổi một mùa hoan ca”, thi sĩ như con tằm làm chiếc kén “kết thúc một vòng đời/ chưa trọn một mùa trăng”. Thế nhưng với mọi người, con ve và con tằm sau khi dâng hiến cho đời thì chết trong đau thương. Ngược lại với Hư Vô thì:
   
     Ta viết dòng chữ nhỏ
     Làm chiếc kén đời người
     Vào ngủ yên trong đó
     Một giấc sầu hóa thân 
          ( Thi Sĩ)
     
Đừng nghĩ rằng “một giấc sầu” của Hư Vô là một sự đau khổ, vì sự đau khổ không bao giờ vào trong giấc ngủ. Giấc ngủ từ xưa đến nay chỉ có công dụng làm vơi đi niềm đau mà thôi. Vậy thì “giấc sầu” của Hư Vô là một giấc thụy du miên viễn. Nỗi sầu trong giấc thụy du đó biến thành một cơn đau êm ái, biến thành một cái thú đau thương mà không một thi nhân nào không muốn được thụ hưởng nó, để đưa tâm hồn mình bay vào trong xứ lạ của mộng mơ. Đây là một tâm hồn rất lãng mạn. Bởi sự lãng mạn đó nhà thơ tưởng tượng mình được yên ngủ một giấc sầu hóa thân mãi mãi. 
      Cũng từ cái định hướng cho sự nghiệp làm thơ là “tay nâng giọt lệ êm đềm” nhà thơ Hư Vô đã có một ước vọng trọng đại cho cuộc đời mình. Một ước vọng hy sinh cái linh hồn nhỏ bé của mình cho công việc vĩ đại của đời. Hư Vô khiêm nhường nhận mình rằng; “Tôi là hạt sỏi nhỏ/ Thô thiển và vụng về” nhưng lại “Xin làm nền móng/ Những lâu đài ngàn năm”. Hư Vô cho hồn mình ở “vùng đất hạn” chỉ “Trồng một thân cây nhỏ” nhưng lại mun thân cây ấy “Hoa ngạt ngào tỏa hương”. Khát vọng của nhà thơ là dâng hiến cho đời. Khát vọng ấy cháy bỏng như Hỏa Diệm sơn trong một thái độ trầm tư và điềm đạm mà tôi đã thấy khi ngồi bên nhà thơ:
      
       Tim tôi từ Hỏa Diệm
       Yên ngủ đã mấy mùa
       Dẫu tình yêu câm nín
       Còn ấp ủ dung nham 
           (Tôi là cát sỏi)
 
   Còn tình yêu cúa Hư Vô thì sao? Đó là thứ tình yêu bao dung. Xin đọc bài thơ có 25 câu. Người viết xin rút ngắn để lấy đại ý còn 14 câu:
     
       Em phương trời cánh mõi
      Ta ngao du bến bờ
     Gởi lòng qua phiến lá
     Lay bay buổi giao mùa
      Chiều qua miền ký ức
       Lũy tre xưa điêu tàn
      Người đi từng ngày tháng
      Nắng gió và âm thanh
      Ta dại khờ quá đổi
      Tin những vì sao rơi
      Ngước về miền đất hứa
      Giữa chập chùng mê cung
      Ôi vầng trăng lặng l
      Thu nguyên màu bao dung
     (Thu nguyên màu bao dung)
     
   Nhà thơ đã nhận ra mình “dại khờ qua đổi” rồi nhưng vẫn ngước mắt về miền đất hứa để trong mắt mình thấy một “vầng trăng lặng lẽ” của trời “thu nguyên màu bao dung”. Vầng trăng lặng lẽ là hình ảnh của khối tình đã trở thành “Giọt lệ”. “Thu nguyên màu bao dung” là tâm trạng của người thất tình nhưng tay vẫn “nâng giọt lệ” vì lòng đã “bao dung”. Sự bao dung đó đã làm cho tâm hồn nhà thơ vẫn êm ái như buổi trời thu. Đọc thơ ở đây, ta thấy một triết lý yêu khoáng đạt, một tình yêu lớn vượt lên hết tất cả sự tầm thường của con người xương thịt. Cũng nhờ thứ tình yêu bao dung đó mà nhà thơ Hư Vô đã nhận được hạnh phúc trên đời dầu trong nghịch cảnh:
    
      Ai cũng biết yêu là đi tìm hạnh phúc
     Nhưng mấy ai có được trọn vẹn hạnh phúc trên đời
      Dầu có lúc tia nắng hồng thiêu đốt
      Và trùng dương gây phong vũ thủy triều
      Hãy nắm tay nhau khi nào còn có thể
      Để sa mạc đời thêm những giọt sương.
       (Nói với người dưng)
      
      Hư Vô không cần mưa trên sa mạc, nhà thơ chỉ cần những giọt sương thôi thì hoa Xương Rồng vẫn nở, cũng như nhờ đó nhà thơ sẽ “Gieo những hoài vọng ước mơ về vĩnh cửu”.
       Ai là bạn của Hư Vô thì cũng biết nhà thơ chịu nhiều nghịch cảnh cay đắng giữa cuộc đời nầy. Ta hãy nghe Hư Vô tâm sư về anh:
      
     Một ngày chưa biết lớn khôn
     Đi qua buổi chợ máu tanh thịt người
     Vai thêm cặp nạng không lời
     Đôi chân gỗ đá một đời buồn tênh
         (Tang thương)
      
     Có thể nói rằng, Hư Vô sinh ra “dưới một ngôi sao xấu”. Vậy dưới ngôi sao xấu đó nhà thơ sống như thế nào? Xin nghe đây:
      
     Ta sinh ra đất bùn, cẩm thạch
     Ta lớn lên hề lửa hồng đêm đen
        ( Tự tình)
     Thuở ấy đời toàn màu đen tối
     Ta hòa ra mực viết câu thơ
     Thơ bay qua đỉnh sầu chất ngất
     Gặp đóa phù vân đẹp ngẩn ngơ
     Phù vân đôi lúc rơi thành lệ
     Nhỏ xuống long lanh những phiến buồn!
         (Những phiến buồn)
       
      Như vậy, cuộc đời trong tâm hồn Hư Vô vẫn quý giá như cẩm thạch, vẫn rực nóng như lửa hồng, và vẫn long lanh như những câu thơ kết tủa từ nhưng nỗi buồn quyện với phù vân trên đỉnh cao chất ngất. 
     Hãy tưởng tượng những đám mây hóa thành mưa. Mưa rơi xuống trần gian thật buồn. Buồn thì buồn đó nhưng mưa đem lợi ích cho nhân gian biết là chừng nào. Không những thế, mưa ấy hóa từ mây và mây ấy còn là thơ từ trong màu đen tối mà thành. Hóa ra, tất cả vẽ đẹp đó là từ những khổ đau mà đời cho Hư Vô. Nó đã hóa thành lệ. Lệ đó Hư Vô không đổ đi, không làm thành hư vô như bút hiệu của mình. Nhà thơ nhận tất cả và lấy tâm hồn bao dung của mình làm cho nó đẹp, rồi gởi nó vào đời như mưa. Mưa ấy “nhỏ xuống nhân gian nhừng giọt buồn” đẹp và ích lợi biết bao.
      
     Có nhà phê bình thơ cho rằng, thơ mà chỉ viết bằng lý trí thì không phải là thơ. Đọc toàn bộ thơ của Hư Vô, tôi cảm nhận nhà thơ viết bằng lý trí của mình. Thứ lý trí đó không những là thơ mà còn là thơ hay! Cái lý trí đó hướng dẫn tâm hồn lãng mạn của nhà thơ đi đúng con đường chân lý. Những người sinh ra dưới ngôi sao xấu, dầu là trí thức vẫn thường có ba cách sống. Một là sa lầy trong tội lỗi, hai là lao vào giành dật trong cuộc sống, ba la khinh đời, ngạo mạn và đau khổ. Ngược lại ở Hư Vô, từ trong thơ anh, ta thấy một phong cách sống thoát ra, ôm gọn niềm đau trên tay và bay bổng thanh thản trên những hệ lụy của đời. Nhà thơ không cần nhờ đến triết lý tôn giáo riêng biệt nào để thoát khổ đau. Thế nhưng trong thơ anh, hình như tất cả những triết lý cao siêu của tôn giáo, đã hóa thân vào trong “tay nâng giọt lệ”, làm cho nội tâm nhà thơ và con mắt nhìn của nhà thơ trở nên êm ái. Nhờ đó Hư Vô đã nhìn thấy “cõi bụi” “ đẹp muôn ngàn hư áo”:
    
      Rồi một mai thuyền xa bờ dâu bể
     Bỏ sau lưng vừng nhật nguyệt tứ thời
     Hoa cỏ mùa xuân hay lá úa thu rơi
    Tiếc cõi bụi đẹp muôn ngàn hư ảo.
       ( Cõi Bụi)
    
    Thơ của Hư Vô hầu như không có một câu thơ nào được đánh bóng, không có một khổ thơ nào được nhấn mạnh cho thanh âm kích thích tai người. Đó là một tiếng thơ trầm như con suối lặng lờ , mà ngắm nó, khách phải đưa tầm mắt nhìn bao quát dòng trôi, khách phải có con mắt ít nhiều thẩm mỹ và khách càng trường trãi với bất trắc ca cuộc đời thì khách càng thú vị biết bao. Đây là những giọt lệ rơi trong lý trí, và bởi một tâm hồn yêu sự “trong trẻo vô biên” đã làm cho vết thương trong con Sò thành ra hạt ngọc trai qúy hiếm. 
Cái có trong cái không, rốt ráo là gì? Đó là Phật. Cái còn lại rốt ráo trong tâm Hư Vô là gì? Là giọt lệ thành thơ vậy!!! ./.

                                                    
CT

 

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN