Nghệ thuật vị dồn ta đến chân tường – Nguyễn Khánh Tuyết Vy

0
47

small_1383879101.nv   Sau cuộc thắng lợi của nền thi ca mới thế hệ 1932 – 1945, nền văn học Việt Nam lại xuất hiện cuộc bút chiến giữa hai phái Nghệ thuật vị nghệ thuật (NTVNT) và Nghệ thuật vị nhân sinh (NTVNS).

   Các nhà văn đương thời đã lên tiếng công kích các tiểu thuyết khiêu tình gợi dục nép bóng dưới những lý luận giả tạo. Việc làm đó chẳng những bảo vệ được nền văn học nước nhà không bị thoái trào, mặt khác, đã đưa nền văn học đến một chân trời mới rạng rỡ hơn. Điểm lại công lao của các nhà văn của phái NTVNS, chúng ta phải thừa nhận rằng đó không phải là việc làm vô ích, xã hội sẽ ra sao nếu những tác phẩm không đúng đắn tràn lan quá nhiều trong khi các tác phẩm có giá trị nhân văn không được độc giả chú trọng? Hậu quả: đạo đức xuống cấp, văn hóa ngày càng suy nhược, nền văn học nước nhà không thể phát triển…

   Cuộc bút chiến giữa hai phái Nghệ thuật vị đã kết thúc từ lâu, nhưng cuộc đấu tranh tư tưởng ấy ngày nay lại tái diễn vì sự tràn lan của dòng sách thị trường, tương đương với thể văn uỷ mị than mây khóc gió xuất hiện nhan nhản vào những năm 1930.

   Bằng những lập luận đanh thép, những người có trách nhiệm đã lên tiếng mạnh mẽ công kích tiểu thuyết ngôn tình. Chúng ta vẫn đang làm cái việc mà những người xưa đã từng làm. Ở giai đoạn 1940 – 1945, một bài viết trên báo Tao đàn số 34 và 35 (dẫn theo Nguyễn Tấn Long, Khuynh hướng thi ca tiền chiến) nói rằng: Khoảng 1936, mấy tờ báo ở Hà nội đua nhau trình bày những thể văn khiêu tình gợi dục, những nhà sản xuất thứ văn ấy tự nhận mình có cái nhiệm vụ phơi bày ra ánh sáng những xấu xa, truỵ lạc của xã hội, những lời tự tình của bọn cơm thầy, cơm cô, những cử chỉ trơ trẽn của gái giang hồ, những hành động hèn mạt của lớp người mục nát, đều được dùng làm tài liệu văn chương. Họ vọng tưởng rằng nói đến cái xấu để làm cho người ta sợ mà phòng ngừa cái xấu.

   Tôi tình cờ đọc được ý kiến của một người bạn văn chương qua facebook: “Mấy bữa nay đọc loạt bài về việc cấm phát hành tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc, mình chỉ cảm thấy buồn cười. Ngôn tình là gọi chung cho thể loại tiểu thuyết viết về tình yêu, nhưng không biết từ lúc nào, và tại làm sao mà người ta nhầm lẫn, gán ghép và giới hạn phạm vi của ngôn tình chỉ dành riêng cho loại tiểu thuyết tình cảm của Trung Quốc. Ngay cả khi khoanh vùng giới hạn này, thì bản thân ngôn tình cũng có rất nhiều loại, thượng vàng hạ cám. Gia tài tiểu thuyết đồ sộ của Quỳnh Dao với hàng loạt tác phẩm có thể gọi là kinh điển như Mùa thu lá bay, Xóm vắng, Hoàn Châu Công chúa… cũng là ngôn tình; Xin lỗi em chỉ là con đĩ của Tào Đình cũng là ngôn tình; Ánh trăng không hiểu lòng tôi của Tân Di Ổ cũng là ngôn tình. Nhưng đây đều là những cuốn sách hay và có giá trị nghệ thuật nhất định.”.

   Làm sao để việc lên án tiểu thuyết ngôn tình không đưa người nhận định rơi vào sự độc đoán? Trước đây, tôi có hơi thiên hướng về quan điểm NTVNS, nhưng những trải nghiệm trong cuộc sống và trong thiên nhiên khiến tôi thay đổi suy nghĩ về cái đẹp cũng như về nghệ thuật.

   Có những cái đẹp cũng đầy ám ảnh, một cái đẹp nguyên sơ và thuần khiết… mang vị mặn chát của biển, mang những con sóng cao muốn qua đầu, và mang cả cái màu đỏ cam của những đốm tảo lam trong làn nước xanh ngọc. Những đốm sao đỏ rực của biển! Nghệ thuật, đôi khi nó chẳng sinh ra từ một lý do hay một mục đích nào cả. Nghệ thuật, nó chợt đến rồi chợt đi. Nó tự nhiên và không hẹn trước, nó xẹt ngang nền trời như một tia chớp, nó bất ngờ xoáy sâu vào tâm thức rồi để lại trong đó ám ảnh khôn nguôi… Nghệ thuật không nhất thiết phải đến từ hoạt động xã hội, nó có thể đến từ biển cả, trời mây, non nước,… tạo hoá chỉ vô tư sắp đặt thế giới tự nhiên, nhưng cái đẹp của chúng chỉ tồn tại khi sự hiện hữu những thứ đó được phản ánh vào tâm hồn.

   Hai thuyết Nghệ thuật vị đối nghịch nhau, cuộc bút chiến đã diễn ra với luồng tư tưởng bị phân hoá mạnh mẽ, sinh ra nhiều khuynh hướng thi ca. Mỗi thuyết bị đóng khuôn trong những quan điểm nghệ thuật, những nhân sinh quan khác nhau. Cuối cùng, cuộc bút chiến không có người thắng kẻ thua, chỉ có quan điểm nào hợp với hoàn cảnh xã hội bấy giờ thì tồn tại mạnh mẽ, phát triển. Cho đến khi thời đại ấy qua đi, đất nước hoà bình và đổi mới, thì mọi quan điểm nghệ thuật được dung hoà trở lại. Nhờ vậy, sách ngôn tình có cơ hội phát triển mạnh trong những năm gần đây.

   Tôi không nhắc lại về tác hại của sách ngôn tình vì các tờ báo và các trang mạng uy tín đều nói rất kỹ. Việc các nhà làm sách cấm phát hành tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc, đó không phải bởi họ bất lực trước cơn bão sách thị trường. Họ cấm đoán, bởi sách ngôn tình không theo đúng tiêu chí của nhà xuất bản. Sách ngôn tình không mang lại giá trị nào khác hơn là tình yêu, chỉ đi vào những biến động nội tâm trong tình yêu. Thật ra, tiểu thuyết ngôn tình không phải không có tính văn chương vì bản chất của tình yêu cũng là cái đẹp thuần tuý, tự nhiên; và mỗi người có quyền tự do lựa chọn đề tài viết phù hợp với những gì mình muốn chuyển tải đến người đọc, miễn sao tác phẩm không vi phạm thuần phong mỹ tục và không liên quan đến chính trị. Nếu cho rằng tác giả không nên cho ra đời tác phẩm chỉ viết về tình yêu, ta lại rơi vào sự ép buộc và ta vô tình hiểu sai bản chất của văn chương.

   Theo Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng, nghệ thuật được định nghĩa là một nỗ lực của con người, dùng tài năng khéo léo của mình để làm ra cái đẹp, khêu gợi tình cảm say mê. Còn văn chương, Thanh Lãng định nghĩa đó là một nỗ lực sáng suốt của trí óc loài người nhằm thực hiện cái đẹp thuần tuý, vô vị lợi bằng chữ viết. Như vậy, văn chương là đứa con được sinh ra từ nghệ thuật và hoàn toàn mang bản chất nghệ thuật.

   Khi văn thơ chiến đấu ra đời, quan điểm của người sáng tác là lấy nghệ thuật để phục vụ cho chiến đấu, lấy nghệ thuật để cải tạo xã hội, mang đến cuộc sống ấm no cho nhân dân. Họ cho rằng, nghệ thuật thuần túy không tách rời hoạt động xã hội.

   Nói như thế, nghĩa là: Không có hoạt động xã hội thì không có nghệ thuật, không có cái đẹp.

   Không, người nghệ sĩ chân chính không bao giờ xem nghệ thuật là thứ công cụ để phục vụ cho đời sống hay giai cấp xã hội nào cả. Nghệ thuật giống như ánh lửa truyền vào lòng người hơi ấm của cái đẹp tự nhiên ngay trong chính vạn vật và ngay trong sinh hoạt xã hội. Nghệ thuật ở văn chương được thể hiện bằng chữ viết và ngôn từ. Nghệ thuật chính là hoa quả của tài năng, và cái đẹp trong cuộc sống chỉ tồn tại khi nó thực sự đi vào cảm thức. Văn chương cũng như nghệ thuật thực hiện cái đẹp thuần tuý, vô vị lợi. Nghệ thuật cũng như cái đẹp trong văn chương tự nó phát sinh khi có một nỗ lực sáng tạo, tự nó vô tình khơi gợi cái đẹp và cái thiện.

   Các tác phẩm văn học được đánh giá cao thường không chỉ có giá trị lớn về nghệ thuật, mà chúng còn để lại trong lòng người một sức ám ảnh về số phận, về cuộc đời, về cái xấu, về những tội lỗi. Tôi xin ví dụ một tác phẩm xuất sắc và khá quen thuộc với công chúng: Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà của Victor Hugo. Câu chuyện với yếu tố tả thực đã gây được sức ám ảnh rất lớn khi nhà văn miêu tả vẻ bề ngoài đáng sợ và tâm hồn lương thiện của nhân vật Quasimodo, từ đó, đánh tan sự kỳ thị người khuyết tật trong sự cuồng tín của con người và gợi được lòng thương cảm sâu sắc của nhân loại đối với những người tàn tật.

   Văn chương – nghệ thuật ngày nay có lẽ đã đạt đến sự tự do nhất có thể, làm nảy sinh vấn đề khiến chúng ta điên đầu: làm sao để đưa ra một tiêu chuẩn đánh giá tác phẩm? Và tiêu chuẩn ấy chính là giá trị nghệ thuật và giá trị nhân văn được chuyển tải đến người đọc. Có người từng chê trách tình yêu trong thơ Xuân Diệu chỉ mang đến cho con người cảm giác ngột ngạt, khổ sở và sự ích kỉ. Từ đó, ta có thể luận ra những gì ta cảm nhận được trong các truyện ngôn tình mà ngoài những dòng văn cảm nghĩ và tâm trạng của kẻ đang yêu, không có một nhân sinh quan nào khác về cuộc sống. Tuy nhiên, điều gây ra tranh cãi nằm ở chỗ: viết truyện ngôn tình cũng không nằm ngoài việc dùng ngôn từ để khơi dậy tình cảm say mê của con người, vậy thì ai dám bảo truyện ngôn tình không mang tính nghệ thuật!

   Văn chương nghệ thuật cũng thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại, sự tiến bộ về tư tưởng để hình thành nhân cách tốt. Văn chương chạm đến mọi nẻo của đời sống, là tiếng nói thức tỉnh thời đại bị chìm đắm trong công nghệ kĩ thuật tiên tiến, tiếng nói đó giúp ta thận trọng hơn trong ứng dụng khoa học kĩ thuật, cảnh tỉnh ta trước những sai trái nguy hại đến xã hội tương lai. Sự phát triển vô độ của bất cứ lĩnh vực nào cũng mang đến tai hại, qua những thông điệp của một tác phẩm văn học, ta hiểu để tìm cách điều chỉnh lại các vấn đề xã hội. Một tác phẩm nếu chỉ khơi lên cái đẹp thuần tuý, theo tôi, tác phẩm đó cũng đã được xem như có giá trị về mặt nghệ thuật. Nhưng vấn đề ở đây, là giá trị trong các tác phẩm được đánh giá cao đến đâu? Còn việc một nhà xuất bản quyết định không phát hành thể loại ngôn tình, đó là vì họ có những tiêu chí riêng về giá trị tác phẩm, giá trị đó bao gồm cả nghệ thuật lẫn nhân văn.

   Những nhà xuất bản cấm phát hành thể loại ngôn tình không hề rơi vào cực đoan trong đánh giá tác phẩm văn học, phải có sự sàng lọc kĩ tác phẩm văn nghệ thì văn hoá đọc mới không bị ô nhiễm và không bị thoái hoá. Đồng thời, việc làm này sẽ mang lại sự đánh giá khách quan năng lực của người viết, không để diễn ra thực trạng một số người viết nổi danh nhở những cuốn sách thị trường.

   Xét lại, những nhận định về các cuốn sách văn chương hiện nay cần sự khách quan chứ không thể đi theo một lối mòn, một quan điểm; cũng không thể cẩu thả và dễ dãi trong xuất bản sách. Cách thể hiện của mọi tác phẩm đều khác biệt, giá trị các tác phẩm cũng có những mức độ khác nhau. Tôi không thích thể loại ngôn tình. Tôi cũng không hiềm khích, không phê phán việc các nhà xuất bản cấm phát hành sách ngôn tình. Bởi tôi tin rằng, các nhà xuất bản một khi đã đưa ra quyết định gì thì đó cũng là tiêu chí, là quyền lựa chọn của họ. Miễn sao, việc làm đó gây ảnh hưởng tích cực đến văn hoá đọc thì cấm đoán của họ vẫn được xem là ổn.

   Thanh Lãng đã có một khẳng định chắc chắn khi ông nói về nền văn học dân gian truyền miệng: Đó là một nghệ thuật thuần nghệ thuật, nó thi vị, lơ lửng, chơi vơi, lý tưởng, tiêu thực, lảng vảng cốt để giúp con người nông dân có cơ hội siêu thoát, giải trí thoát tục. Ngay từ thời xưa, những con người bình dân đã sáng tạo nên nghệ thuật thuần tuý. Cái chất nghệ thuật thuần tuý không chỉ bộc phát nên từ trí tưởng tượng phong phú – nơi có thần tiên ngự trị, mà nó còn bộc phát từ ước mơ về một cuộc sống công bằng và hạnh phúc. Như vậy, NTVNT chẳng phải luôn kết hợp NTVNS mới làm nên sức ấn tượng mạnh mẽ và giá trị văn nghệ to lớn đó sao!… Không có một ranh giới nào hay một thước đo nào để phân biệt NTVNT với NTVNS! Bản chất nghệ thuật thật ra không hề có sự phân biệt đó, mọi tiêu chuẩn đánh giá tác phẩm đều phụ thuộc quan điểm mỗi người. Những cuộc tranh luận về hai phái Nghệ thuật vị cũng như những tranh cãi về tính nghệ thuật trong truyện ngôn tình, chỉ đưa chúng ta vào ngõ hẹp, rất vô ích. Điều đó không khác gì chúng ta tự đẩy mình vào một đường lối, một cái khuôn chật hẹp để rồi dồn tư tưởng, tình cảm vào chân tường.

   Chỉ cá nhân mới bứt lên, tạo dựng được những giá trị trân quý và cao cả, trong khi bầy đàn, xét như bầy đàn, cứ mãi vẫn là trì độn trong tư duy và trong cảm xúc. (Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy). “Cá nhân” mà Einstein nói đến trong sáng tạo nghệ thuật chính là quan điểm sáng tác, tư tưởng riêng của mỗi người viết. Tại sao ta không để nghệ thuật và con chữ tự do trên đôi cánh sáng tạo của nó! Sao ta cứ phải buộc nghệ thuật hướng tới cái chung? Sao ta phải tranh cãi nhau để tìm lấy một khoảng đất nhất định cho nghệ thuật trong khi vô số những cái cây của nó cần một không gian rộng lớn để phát triển một cách mạnh mẽ? Bản thân nghệ thuật tự nó sẽ khai phá mảnh đất cho chính nó.

Nguyễn Khánh Tuyết Vy

TP. Hồ Chí Minh

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN