MÊNH MÔNG TÌNH MẸ – Bút ký Nghiêm Khánh

0
35
Nghiêm Khánh
 
Tháng 7.1980 tôi cắt phép ra thăm quê vợ, thăm mẹ, cùng anh chị em và những người thân. Trời miền Bắc bao la trong trái tim tôi. Quê hương Tĩnh Gia nằm trong trí tưởng tượng, thành nỗi ao ước của chàng trai mới lớn. Vậy mà năm năm sau giải phóng mới có dịp ra thăm lần đầu. Ôi! Phố Còng thân thương, Làng Bình Minh êm đềm, Ba Làng luôn nhộn nhịp…là ước mơ bao ngày trong tôi.
 
Ba ngày nằm dưới ga Sài Gòn sắp hàng mua vé. Tôi tháp tùng với đoàn giáo viên trường cao đẳng Sư phạm Tây Ninh về thăm quê hương. Đi mà hồi hộp. Bởi cũng là về Thanh Hóa, nhưng mỗi thầy, cô về mỗi nơi, tứ phía, cách nhau hàng chục cây số. Mỗi người một hướng, nghe thầy, cô diễn tả- nhưng tôi cũng chỉ mường tượng trên giấy.
 
Ba ngày trên tàu cảnh tượng rất xô bồ thời bao cấp. Chuyến tàu đầu tiên trong đời tôi sao không thơ mộng như mình đã đọc trong thơ, văn của tiền nhân nào đó … Mọi lý thuyết đều màu xám/Và cây đời vĩnh viễn xanh tươi (Goethe) đây sao? Chỉ vì cảnh đi tàu vất vả, phương tiện đi lại thiếu thốn thời hậu chiến tranh mà ta nghĩ đến cả một “cây đời” thì ắc không phù hợp lắm. Biết vậy mà lần đầu mới tiếp cận, hỏi sao tôi không khỏi có cái nhìn khiếm khuyết…
 
Thật tình tôi không dám ngủ. Họa hoằn lắm mới chợp mắt được một lúc, lại phải thức để trông coi hành lý- thật tình cũng chẳng có gì quý hóa cho lắm, ngoài vài bộ đồ cá nhân và ít hàng nhu yếu phẩm làm quà cho gia đình, nằm gọn trong ba lô và hai chiếc xách tay. Mỗi lúc gần sáng hoặc khi tàu dừng lại ga chính, hay tránh nhau, thì người bán hàng rao bán đủ thứ thực phẩm, thật ồn ào và phức tạp. Người lên từ ga mới ơi ới…gọi nhau tìm chỗ ngồi. Kẻ xuống vì đến nơi không biết có chính xác chưa? Người đón, thì lại chen lấn, bất cần trật tự. Cảnh đi tàu không thể tả hết nỗi nhọc nhằn, với những cú đấm đá nhau vô tư trong đêm tối.
 
Đến sân ga Văn Trai, cách thành phố Thanh Hóa trên dưới hai mươi cây số. Tàu không dừng mà chạy chậm lại cho khách nhảy xuống. Ôi! nguy hiểm quá. Nhưng biết làm thế nào khác được. Tôi như người trong mộng. Cứ nghe lời thầy, cô đi chung nhảy theo hướng tàu chạy sẽ đảm bảo an toàn, không phải lo. Vậy là tôi phải chạy theo quán tính, sao cho bằng hoặc hơn vận tốc con tàu. Khó thật khó…nào…nhảy…hai…ba.
 
Hú hồn lần đầu tiên tôi liều mình. May mà cú nhảy theo tàu có vận tốc hơn cả chục ký lô mét, người tôi lộn năm bảy vòng đau điếng một lúc. Tàu chạy xa rồi tôi mới lồm cồm ngồi dậy. Tôi nghe văng vẳng bên tai: “Anh gì đó ơi! Anh có sao không?” “Ừ..tôi..không sao? À mà chị là ai vậy?”.  “Em người đi tàu cùng anh nè. Anh đi toa số 2. Còn em số 3. Anh em ta cùng nhảy một lúc. May mà em gượng được không bị lộn mấy vòng như anh. Anh khỏe chưa?”.
 
Người đang hụt hẫng, nghe giọng nói như ai đó hát thánh thoát giữa đêm trăng thanh, gió mát, tôi như lạc giữa thiên đường. Tôi vội trả lời cho cô ấy: “Khỏe rồi”- Tôi quờ quạng đi tìm hành lý của mình. Người con gái chỉ tôi điểm rơi hành lý của mình, vì tôi bị mất phương hướng: “Hành lý anh mãi đằng tê tề”. Tôi nhìn theo tay cô chỉ, thầm cám ơn cô gái- mà sao chẳng nghe được gì. Bỡ ngỡ quá với giọng nói người địa phương. Mãi một lúc lâu tôi mới định thần được. Nhưng đường về Bình Minh thì vẫn không xác định được hướng nào.
 
Tôi hỏi chị về đâu? “- Em về Yên Hoà, Bình Minh anh à. Mà anh mới ra lần đầu sao?” Tôi mừng như bắt được vàng. Có lẽ biết tôi không nghe được giọng địa phương- cô nói chậm và rõ ràng hơn. Tôi nói: “Mới lần đầu”. Vậy là tôi biết cô gái  về Bình Minh. Tôi chẳng biết Yên Hòa là ở đâu? Nhưng tôi mừng nói với cô: “Tôi cũng về Bình Minh nè. Chị cho tôi đi cùng với”.
 
Dưới ánh trăng hạ huyền mờ nhạt. Tôi kịp thấy hàm răng cô cười trắng tươi, đều như hạt bắp. Thấy cô chưa trả lời, tôi nói tiếp: “Tôi nhìn trời mù tịt chị à!” Cô nói: “Anh yên tâm. Tôi sẽ cùng anh về đến nhà- hơi ngược một chút nhưng không sao”. Nhưng cô đồng ý là được. Rồi tôi đành nhờ cô ấy làm hướng dẫn viên- và dò đường đi theo chân cô dưới ánh trăng sắp tàn. Tôi thấy thật sự an tâm.
 
Lần trong dây nịch mang ở lưng, sờ trước bụng, còn cái đồng hồ đeo tay tôi mang theo. Lấy ra xem. Đã hai giờ sáng. Tôi hỏi trống không, ta đi khoảng mấy giờ thì đến nơi. “Ta đi giỏi thì bốn giờ đến nhà thôi anh à. Còn về đến nhà em mất thêm năm cây nữa. Gần thôi mà anh”. Cô ấy hỏi: “Mà anh về bên ấy là nhà ai vậy?” Tôi ú ớ trả lời- vì không có chuẩn bị, và không quen giọng cô ta nói: “Tôi về… nhà út Minh.” “ Út Minh nào nhỉ? Tôi cố đánh lưỡi theo giọng Bắc: “Nhà bà Lấn đấy- mẹ vợ tôi.” “ À em nhớ ra rồi. Nhà bà Huân đấy mà.” Cô ấy biết cả vợ tôi. “Ở ngoài nầy gọi thế đó anh ơi! Lấy tên con đầu gọi tên bố, mẹ”.
 
Thế là cô kể rành rẽ mối quan hệ giữa cô và mẹ vợ tôi: “ Mẹ chị là bác họ em- chị không về cùng anh à?” Không đợi tôi trả lời cô cho biết: “Em mới vào trong ấy  năm 77. Cùng với chị Thiện vợ anh.  Em đang ở với bố em trong Sài Gòn. Nay về phép dẫn cả nhà vào trong ấy sinh sống- theo ý của bố.” Nghe nói bố cô làm trong Ban Quân quản của một quận thuộc thành phố.
 
Đúng như dự kiến tờ mờ sáng là đến nơi. Có người lạ chó sủa khắp đường làng, đánh thức cả xóm quê về đến tận nhà. Dì Út ra mở cửa. Tôi nhận ra ngay vì vợ tôi thường kể cho nghe nhà còn mỗi dì Út và mẹ. Út dùng chiếc cây gần hai mét, lấy sức chỏi tấm liếp làm bằng lá cọ- sau nầy tôi mới biết. Cửa nhà có thế. Ôi sao mà thoải mái quá. Cảnh làng quê thật yên ả. Cô ta tự giới thiệu gia thế nhà mình cho dì Út biết. Một hai phút ngập ngừng. Út nhận ra cô gái ấy là chị Lan, con bà Ngân ở Yên Hòa…Rồi cô Lan vội chào xin phép ra về- không quên mời tôi lúc nào rảnh sang nhà cô ấy chơi. Tôi chào và cám ơn cô- dẫu sao cô ấy cũng đã nhiệt tình hướng dẫn đường. Từ đó tôi không còn gặp lại cô- nghe nói nhà vào cả trong Nam.
 
Dì Út tay xách hành lý của tôi vào trong nhà. Lấy nước cho tôi rửa mặt. Tôi hỏi còn mẹ đâu không thấy Út Minh: “Chắc mẹ đi chợ mua cá và thức ăn cho anh rồi.” Tôi lội khắp vườn nhà- rộng quá. Buổi sáng thật là mát mẻ. Dì Út bảo: “ Anh vào nhà tắm rửa nghỉ ngơi cho khỏe, đi đường xa chắc là anh mệt lắm”. Tôi nói: “Không mệt đâu. Lần đầu đi tàu cảnh vật lạ và hấp dẫn quá”.
 
Vệ sinh cá nhân xong. Tôi nằm trên chiếc giường nói chuyện với cô em Út đôi, ba câu gì đó và ngủ thiếp đi. Giấc ngủ sâu sau mấy ngày đường mệt nhọc. Tôi mơ thấy mẹ đi chợ về, mẹ mua nhiều cá lắm. Trong cái rổ mẹ bưng trên tay đầy những bánh, có cả bánh đa và một chai ba rượu đế quê hương Tĩnh Gia- tôi chào mẹ hỏi bánh gì nhiều vậy mẹ. Mẹ tôi chưa trả lời, tôi ngủ luôn một giấc đến trưa mới thức. Thấy mẹ già ngồi cạnh, cầm chiếc quạt bằng mo cau, quạt nhẹ nhẹ cho đứa con rễ ngủ trong ngày hè nóng bỏng, nắng trưa hắt vào nơi tôi nằm. Ở quê bấy giờ chưa có điện- thật cảm động không có gì bằng làm tôi nhớ cả đời.
 
“Ơ…kìa mẹ, mẹ về khi nào vậy mẹ?” Hóa ra tôi ngủ say từ lúc sáng. Không biết mẹ ngồi đó quạt cho tôi từ lúc nào. Ngày hè ở đây quá nóng. Mẹ đã quạt- chắc có lẽ từ lúc đi chợ về. Tôi bật dậy chào: “Con chào mẹ”. Một bà mẹ tuổi tròm trèm bảy mươi, tóc hoa răm, nhỏ người, nhưng rắn rỏi, da sạm nắng, tay chay sờn- mặt hồng hào. Mẹ lam lũ quá. Người gầy. Răn nhuộm đen chưa mất cái nào. Trông mẹ còn rất khỏe. Tôi thấy giống mẹ mình.
 
Về quê vợ mà tôi cảm nhận như về quê ngoại. Mẹ dẫn tôi đi hết chợ Diệc, đến chợ Hôm, chợ Ba Làng…nhìn sinh hoạt chợ quê thật hiền hòa, chơn chất, thật trìu mến như trong tâm tưởng của tôi. Rồi đến chợ huyện Còng-Tĩnh Gia, đâu đâu cũng đượm tình quê. Mua bán mà cứ như trao đổi. Sự thân quen mặn mà một thời cứ phảng phất đâu đây. Giờ thì thói mua bán đã thay đổi nhiều, tranh giá bán mua với nhau từng chút. Chợ quê họp đến chín giờ đã dẹp. Chủ yếu người ta bán mớ cá đánh bắt được, hoặc rau vườn nhà trau đổi cho nhau. Còn lại đem lên chợ Còng bán- chợ chiều. Rảnh rỗi mẹ dẫn tôi thăm biển Hài Hòa, biển Ba Làng…hồi đó chưa có du lịch, biển thật ít  người, thỉnh thoảng dậy sống như tấm lụa to bay trước gió. Trông rất thích thú.
 
Những bữa cơm luôn có cá tươi mẹ mua. Mẹ tôi nói: “Con ăn đi chẳng phải mẹ mua đãi khách. Thường ngày ở ngoài đây nhà hay ăn cá biển. Biển nhiều cá lắm. Chỉ có cơm ăn một bữa, còn lại phải độn sắn, khoai quen rồi. Lương thực thất bát thường, không đủ ăn. Nhưng con an tâm. Cứ ăn cơm- thật ra nhà ta không thiếu”. Tôi thật tình không dám. Ăn độn một hai bữa thật khó khăn, không nuốt nỗi. Mẹ tôi quyết định buộc tôi ăn cơm tôi phải nghe theo. Mẹ tôi còn đưa tôi thăm bà con, hàng xóm, giới thiệu có con rễ miền Nam, mới cưới con gái thứ sáu, nay ra thăm quê. Tôi được dịp trả lời những câu hỏi về cuộc sống của dân miền Nam.
 
Ở Bình Minh được hai tuần. Mẹ đưa tôi đi Hà Nội bằng tàu chợ- bắt đầu ở ga Văn Trai lúc mười chín giờ. Tôi lại một phen chịu đựng sự xô bồ trên tàu chợ, với cảnh người chen chúc nhau. Ai mạnh được chỗ là đi- ai yếu bị lôi xuống thì ở lại. Tôi không quen bị trồi xuống hai ba lượt. Tội nghiệp mẹ tôi, vì tôi phải lên xuống ba, bốn lần. Cuối cùng cũng đi được. Nhưng mẹ tôi đuối sức thiếp đi. Tôi rất lo. May mà mẹ tôi tươi tỉnh lại.
 
Ngày đầu tiên tôi đến Hà Nội lúc ba giờ sáng. Một thành phố còn đầy vết tích chiến tranh tàn phá. Cũ kỹ xa xưa trong tôi, dưới ánh sáng mù mờ, nơi sáng nơi tối- mọi việc đổi mới còn đang phôi thai. Tôi tha hồ đi tàu điện khám phá Hà Nội. Hết vườn Bách thú đến các địa danh: Bưởi, sang Nhổn, đi về Cầu Giấy, dạo Ba mươi sáu phố phường…nhưng chưa được mấy. Sang ngày thứ ba, mẹ tôi bị trượt té nơi sân khu nhà tập thể đường sắt, nơi hai mẹ con đang ở nhờ- gãy tay, phải đăng bột ở bệnh viện Việt Đức. Hơn mươi ngày. Trời nóng nực mẹ tôi khó chịu đòi về quê. Ông anh bà xã tôi phải tìm xe quen gửi mẹ và tôi đi về Tĩnh Gia. Một chuyến xe đi nhờ thật sự thoải mái, chỉ hơn sáu giờ là về đến nơi. Về nhà mẹ tôi cắt cái băng bột- bà tra lá gì đó vài hôm đã khỏi.
 
Một tháng lưu lại miền Bắc trôi nhanh. Với tôi kỷ niệm vui nhiều hơn buồn. Tôi bắt đầu quen với sinh hoạt của miền quê thân thương- thì phải chia tay mẹ anh chị em lên đường về Nam. Bao lưu luyến ngày đầu mới gặp. Sinh hoạt thiếu thốn thời bao cấp, tôi vẫn thấy đầy ắp tình yêu thương gia đình. Tôi thấy mình ướt mi. Cứ tưởng lâu lắm tôi mới ra được nữa. Chuyện đi lại của mình chắc sẽ còn nhiều khó khăn.
 
Đất nước đổi mới. Tôi có dịp thường xuyên, hai ba năm một lần về thăm quê. Tĩnh Gia- Thanh Hóa đã trở thành thân quen. Mỗi lần về tôi tranh thủ đi thăm thú một vài nơi. Đa số là di tích lịch sử- văn hóa. Thăm quê hương của Lê Lợi người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Minh. Thăm thành Nhà Hồ. Thăm quê của Hữu Loan tác giả bài thơ Màu tím hoa sim đi vào lòng người bất diệt…vậy mà gần hết đời tôi đi chưa hết.
 
Lần cuối tôi về gặp mẹ. Dù đã lẫn, mắt mờ, chân không còn đi lại được. Nghe giọng con rễ miền Nam ra, mẹ hỏi ngay: “Nghiêm đó hả con. Mai mốt mẹ chết con có ra không?” Tôi bật khóc và nói trong nước mắt- dạ..con..ra mà mẹ. Tuổi mẹ đã 102, bằng tuổi một danh tướng Việt Nam. Bà hay khoe và tự hào là cùng tuổi Bác Giáp. Mẹ tôi đi trước Bác Giáp một năm. Chỉ tiếc mẹ tôi nhắm mắt, tôi không còn kịp nghe mẹ nói lần cuối. May mà tôi còn thấy được mặt mẹ ngày sau cùng…
Nghiêm Khánh

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN