Huyền tích từ những tên người, vùng đất… – Ký sự La Ngạc Thụy

0
37
 
đồng cỏ
Ngoài huyền sử về Ngũ hổ tướng: Huỳnh Công Giảng, Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công nghệ, Lê Ngọc Báu, Lê Ngọc Đương, Tây Ninh vẫn còn truyền tụng nhiều chiến tích của các vị anh hùng dân tộc trong thời kỳ Tây Ninh chống thực dân Pháp.
 
Theo kết quả khảo cổ học của Pháp đầu thế kỷ XX, cũng như kết quả đợt khảo cổ các di tích Gò Tháp ở Tây Ninh năm 1989 của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và các nhà khoa học Liên Xô, đều xác định cộng đồng dân cư cổ xưa đã đến sinh cơ lập nghiệp trên đất Tây Ninh – Vàm Cỏ vào khoảng 2.000 năm trước Công nguyên với phương thức sản xuất nông nghiệp nương rẫy, đánh bắt thuỷ sản, nghề làm đồ gốm và một số nghề thủ công khác. Đó là nhận định của Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh Trần Lưu Quang trong buổi hội thảo về đề tài: “Tây Ninh – 180 năm hình thành và phát triển”. Do vậy, Tây Ninh cũng như nhiều vùng đất khác có nhiều huyền tích từ những địa danh và con người. Có huyền tích được truyền khẩu và những huyền tích được ghi vào sử sách. Nếu chỉ kể từ “vị quan Tham tán quân vụ Khâm Tấn Trường do triều đình Nhà Nguyễn bổ nhiệm cai quản Tây Ninh không tuân hành lệnh bãi binh của triều đình đã rút quân về An Cơ chiêu mộ nghĩa quân, mua sắm vũ khí, lương thực, bám lấy địa hình rừng rậm, quyết tâm chống giặc, đến những nghĩa sĩ xuất thân là nông dân, có ý chí bất khuất như lãnh binh Tòng, lãnh binh Két đã phục kích đánh Pháp nhiều trận oanh liệt, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Oanh liệt nhất là lực lượng nghĩa quân Trương Quyền, con của Bình Tây Ðại nguyên soái Trương Ðịnh, sau khi Trương Ðịnh hy sinh ở Gò Công, Trương Quyền đã đưa quân lên vùng rừng núi Tây Ninh phối hợp với nghĩa quân Khmer của Pukumpo đánh Pháp. Ðiển hình như trận đánh của liên quân Việt – Khmer ngày 7.6.1866 tiêu diệt viên quan trấn nhậm Tây Ninh đầu tiên của thực dân Pháp là Ðại uý De Larclauze tại bến Trường Ðổi, cách lỵ sở trung tâm của chính quyền thuộc Pháp ở Tây Ninh chỉ vài cây số…” Tây Ninh vẫn tự hào những huyền tích, khẳng định Tây Ninh luôn là vùng đất trung dũng, kiên cường… Trong phạm vi thiên ký sự này, người viết chắt lọc từ những câu chuyện kể, sách báo và những ghi nhận tích lũy từ trong ký ức để tái hiện những tên người, vùng đất đã và đang đi vào lòng người dân Tây Ninh.
 
1. Lãnh binh Két – Người hùng chiến tranh du kích và chiến tích Bàu Cỏ Đỏ.
Năm 1861, Tây Ninh bị quân Pháp đánh chiếm, triều đình nhà Nguyễn chẳng những không tăng cường quân lính để đánh trả, chiếm lại mà còn ra lệnh bãi binh. Tham tán quân vụ phủ Tây Ninh Khâm Tấn Trường không tuân lệnh, rút quân về An Cơ, chiêu mộ nghĩa quân, huy động tiền của mua sắm vũ khí, lương thực, bám địa bàn rừng rậm tiếp tục chiến đấu. Tính kế lâu bền, ông đã cho xây thành An Cơ, lập chiến lũy bằng đất đá bề mặt chiến lũy rộng 2 mét, trồng dày đặt tre rừng gai, kiên cố. Ba mặt chiến lũy bao bọc vùng đất rộng dựa lưng vào dòng rạch lớn chảy ra sông Vịnh. Vũ khí chỉ có một ít súng đạn, nên ông đã nghĩ ra nhiều loại vũ khí và vận dụng cách đánh phù hợp, độc đáo. Ông cho trữ thật nhiều gỗ rừng treo trên mặt thành, rồi dùng đòn bẫy bắn cho gỗ lao xuống khi quân địch tấn công thành, đặc biệt là chế tạo một loại vũ khí mà ông gọi là “hỏa hổ” cũng khiến lính Pháp sợ hãi.
Từ đó, chiến lũy do ông Khâm Tấn Trường xây dựng trở thành nỗi ám ảnh cho quân Pháp, nên chúng đã nhiều phen tổ chức tấn công nhằm triệt hạ thành này bất cứ giá nào. Sau nhiều lần tấn công nhưng vẫn không hạ được thành, thực dân Pháp phải tăng cường quân tinh nhuệ nhất, tập trung bao vây và liên tục tấn công cả 3 mặt thành, chiến lũy An Cơ do thiếu lương thực, vũ khí thô sơ đành thúc thủ, thành An Cơ bị hạ, ông Khâm Tấn Trường rút gươm tử tiết. Nhân dân kính phục, thương xót, đưa thi hài ông về chôn cất tại Bến Thứ và lập miếu thờ ông tại đây.
Trong đội quân của ông Khâm Tấn Tường còn có nhiều lãnh binh chống Pháp vô cùng oanh liệt. Tiêu biểu là Lãnh binh Két. Nhân dân ở Trảng Bàng và Bến Cầu truyền tụng nhiều về chuyện Lãnh binh Két đánh Pháp. Ở vùng Long Giang, Long Khánh…  lúc bấy giờ đều là rừng rậm, nghĩa quân của ông Lãnh binh Két lợi địa thế này và đêm tối tổ chức tấn công các đồn giặc. Khi giặc Pháp tập trung quân truy lùng, Lãnh binh Két áp dụng chiến thuật đánh du kích, ông cho quân phân tán thành nhiều nhóm nhỏ ở trong dân, được người dân che chở, tránh đụng độ trực tiếp với giặc, chờ cơ hội phục kích và đánh úp đồn, đặc biệt là tập kích vào những đồn giắc đóng lẻ loi ở Gò Dầu, Trảng Bàng… gây cho chúng không ít tổn thất về vật chất và sinh mạng. Một trận chiến vô cùng ác liệt mà người dân miệt Trảng Bàng luôn tự hào mỗi khi nhắc đến Lãnh binh Két. Đó là trận đánh vào đồn Gia Huỳnh, Gia Lộc, Trảng Bàng đã làm khiếp vía quân thù. Trận đánh mà Lãnh binh Két đã nâng loại vũ khí “hỏa hổ” của ông Khâm Tấn Trường lên tầm cao mới. Ông cho quân lính nấu dầu chai chảy ra, dùng đòn bẫy bắn vào xung quanh đồn, đồng thời dùng cung bắn tên lửa theo sau. Dầu chai bắt lửa cháy phừng phực, đồn Gia Huỳnh trở thành biển lửa, giặc Pháp hoảng hốt, cuống cuồng chạy tán loạn. Nhiều lính Pháp dính dầu chai bắt lửa cháy như ngọn đuốc sống. Đồn bị tiêu diệt, máu quân lính Pháp chảy đỏ quanh đồn, sau nơi này người dân gọi là Bàu Cỏ Đỏ và trở thành địa danh.
Lãnh binh Két được biết đến là một vị tướng giỏi, ông đã cùng đạo quân của mình thực hiện chiến tranh du kích gây rất nhiều tổn thất cho thực dân Pháp, bảo vệ được vùng đất này một thời gian dài. Sau khi Lãnh binh Két mất, nghĩa quân của ông xáp nhập vào lực lượng chống Pháp của Lãnh binh Tòng tiếp tục kháng chiến. Nhân dân vùng Bến Cầu, Trảng Bàng nhớ ơn ông đã lập miếu, xây đình thờ ông. Đó là đình Long Giang thuộc ấp Bàu, xã Long Giang, huyện Bến Cầu, Tây Ninh.
2. Đồng Cỏ Đỏ: Gắn liền với chiến tích của Lãnh binh Tòng
Từ giữa thế kỷ 19, nước ta đang trong tình trạng bị giặc Pháp đe doạ xâm lấn. Nước bạn Campuchia cũng liên tiếp nội loạn, lệ thuộc vào Xiêm La. Dưới triều đại Ang Đuông lại bị hai áp lực giữa Pháp và Xiêm La xâu xé, giựt giành.
Bọn thổ hào là những lãnh chúa địa phương dọc theo bên kia biên giới đã tập hợp bọn lưu manh, côn đồ thành những toán cướp lớn tràn sang cướp phá dân ta. Liên tiếp nhiều năm, có năm vài ba lần, không những bọn cướp tràn sang khuấy phá vùng biên giới mà còn thọc sâu vào nội địa, tràn xuống gần đến địa phận thành phố Tây Ninh ngày nay, gây thiệt hại nặng nề về người và của, khiến cho nhiều nhà phải rút vào rừng sâu ẩn náo, có nhà phải chuyển hẳn đi về miệt Trảng Bàng để lánh giặc cướp. Bởi khi chúng tràn đến đâu thì cướp phá, giết chóc đến đó, khi rút đi để lại một cảnh hoang tàn đổ nát, máu đổ thây phơi. Lòng căm thù giặc cướp cứ mãi nung nấu, nhưng do lực yếu, thế cô, người dân đành phải tìm cách lánh sang vùng khác làm ăn.
Mặt khác, khi quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, đặt ách thống trị trên toàn vùng, cuộc sống người dân càng thêm thống khổ.
Thuở ấy, ở Tây Ninh có vị Hương Cả làng Gia Lộc tên Đặng Văn Trước có tài, có chí đã khai phá, mở mang vùng đất này, được nhân dân kính trọng gọi là Cả Trước. Ông có người con trai duy nhất là Đặng Văn Tòng được sung vào quân ngũ. Nhờ tài trí hơn người nên được phong chức Lãnh binh, người dân thường gọi là Lãnh binh Tòng. Trước tình hình bất an ở vùng biên giới, Lãnh binh Tòng được tin tưởng giao nhiệm vụ tổ chức đánh đuổi bọn giặc cướp, và bảo vệ dân lành. Ông liên kết với Lãnh binh Két ở Long Giang, Bến Cầu chiêu mộ nghĩa quân vừa kháng Pháp vừa tiêu diệt giặc cướp bên kia biên giới tràn sang quấy nhiễu dân lành.
Sau khi nắm tình hình bọn giặc cướp, Lãnh binh Tòng đã vạch ra phương án tác chiến. Phía bắc Tây Ninh, đường lên hướng về cánh rừng Trà Vong bạt ngàn, có một số trảng cỏ rộng lớn nằm gần bìa rừng. Bọn cướp thường tụ tập nơi này để chia của sau khi cướp phá. Lãnh binh Tòng đã chọn nơi này làm chiến trường để tiêu diệt. So về quân số, dân binh ta chỉ có hơn trăm, trong lúc bọn giặc cướp mỗi khi tràn sâu vào nội địa nước ta thường tập hợp quân số rất đông lên đến hơn 200 tên, lực lượng của ta yếu hơn hẳn. Nhưng nhờ mưu lược tài tình của một vị Lãnh binh nên chỉ một trận đánh đầu tiên ông đã tiêu diệt sạch bọn cướp.
Chuyện kể rằng: Lãnh binh Tòng đã cho mỗi dân thường nấu sẵn chảo dầu "con rái", mỗi người lính chế sẵn ống thụt bằng tre. Để tránh bọn giặc cướp phá, tàn sát dân mình, ông điều động nhiều trâu bò cột đầy dọc theo bìa xóm. Khi bọn giặc cướp tràn sang thấy trâu bò có sẵn dây cột, chúng mừng rỡ quên cả giết chóc, theo thói quen lùa về trảng cỏ để ăn uống và chia chác cho nhau. Thấy bọn giặc cướp đã lọt vào trận ðịa phục sẵn. Lãnh binh Tòng cho nổ pháo lệnh. Bọn giặc còn đang giật mình, ngơ ngác, thì hàng trăm tia dầu đang sôi sụt lòng căm thù trút xuống trên đầu chúng. Sức nóng của dầu con rái rơi đến đâu, da thịt bọn chúng cháy phỏng đến đó, khiến chúng hoảng loạn, nhiều tên dùng tay phủi lia lịa, nhưng chúng không ngờ càng phủi vết bỏng càng lan ra. Đau nhức không chịu nổi. Lòng căm thù của người dân được nung nấu bấy lâu nay được dịp bộc phát. Cả binh lính và dân thường đã tràn vào dùng dao búa ra sức đâm chém. Dưới những ánh chớp loé lên của dao búa là một chiếc đầu rơi, một thân mình đứt đoạn. Không mấy chốc cả bọn cướp bị tiêu diệt hoàn toàn, máu loang nhuộm đỏ cả cánh đồng cỏ.
Trận đánh đơn giản, chiến thắng dễ dàng nhưng tên Lãnh binh Tòng đã làm khiếp đảm bọn giặc còn bên kia biên giới. Từ đó về sau, bọn chúng chẳng còn dám héo lánh sang quấy nhiễu dân ta nữa.
Máu chảy đỏ cả cánh đồng cỏ. Để ghi nhận chiến công, người dân nơi này đã gọi thành tên Đồng Cỏ Đỏ suốt từ đó đến nay. Đến ngày giải phóng, thống nhất đất nước Đồng Cỏ Đỏ vẫn còn hoang hoá, cỏ vẫn còn mọc um tùm. Đến năm 1978 có hơn 30 hộ từ Hoà Thành chuyển về đây khai hoang phục hoá và số hộ tăng dần lên gần 100 hộ. Giai đoạn này cuộc sống người dân rất khó khăn, nhưng với truyền thống vượt qua mọi thử thách của người dân xưa đã cùng với chính quyền địa phương sau nhiều năm xây dựng, Đồng Cỏ Đỏ đã thành một vùng đất sung túc, cuộc sống người dân ổn định với nhiều thành tích trong xây dựng và phát triển. Vùng đất Đồng Cỏ Đỏ xưa, nay thuộc xã Bình Minh, thành phố Tây Ninh, luôn gắn với chiến tích anh hùng của vị Lãnh Binh Tòng tài ba.
Sau khi dẹp yên giặc cướp, Lãnh binh Tòng chuyên tâm củng cố lực lượng kháng Pháp. Nhiều trận đánh đã xảy ra trên vùng đất Tây Ninh khiến cho quân Pháp vô cùng lo lắng. Điển hình là các trận phục kích vào ngày 15/10/1860, nghĩa quân đã bắn bị thương tên đại úy hải quân Harmand khi hắn đi tuần bằng thuyền trên sông Thị Nghè. Cũng trong tháng 10/1860, quân ta lại phóng lao giết chết tên đại úy thủy quân lục chiến Barhe lúc hắn cưỡi ngựa đi tuần ở chùa Hải Tường. Đồng thời Lãnh binh Tòng cũng kéo quân tăng viện bao vây khống chế thành Gia Định, tên Ðại tá D'Arière vô cùng lo lắng, gọi viện binh cứu nguy. Ngày 25/10/1860, mặt trận Hoàng Hải (Trung Quốc) kết thúc bằng một Hiệp ước, từ đó, quân Pháp được rảnh tay đã cử Ðề đốc Charur làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp đi cứu viện. Ngày 7/2/1861, một lực lượng lớn quân Pháp từ Trung Quốc kéo về có 2 hộ tống hạm L'Impératrice Eugénee, Remommer, 4 hộ tống hạm hạng nhẹ, 16 thông báo hạm, 17 quân vận hạm, 1 tầu bệnh viện và một số thuyền buồm với 3.000 quân về tới Gia Ðịnh. 4 giờ sáng ngày 24/2/1861, quân Pháp bắn đại bác vào 5 vị trí điểm tựa, trong đó có vị trí do Lãnh binh Ðặng Văn Tòng chỉ huy và đồn lũy Chí Hòa. Quân ta phản pháo song vô hiệu vì tầm bắn không tới tầu chiến đậu ngoài biển và pháo đặt ở chùa Khải Tường, chùa Kiểng Phước.
“Chiến lũy điểm tựa vỡ, Ðặng Văn Tòng cho quân rút về chiến lũy Chí Hòa. Quân ta quần nhau với quân Pháp từ 9 giờ sáng đến 18 giờ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, song quân ta cũng bị tổn thất nặng nề. Ngày hôm, sau quân Pháp tiếp tục tấn công, hơn 1.000 quân sĩ ta tử trận, xác để lại chiến trường, chỉ đưa được thương binh đi. Quân Pháp chết 1 quan 5 Tây Ban Nha, 4 sĩ quan cao cấp, 121 hạ sĩ quan, 1805 binh lính chết trận. Trong trận chiến này tướng Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, tướng Nguyễn Duy tử trận. Ðại đồn Chí Hòa thất thủ. Lãnh binh Tòng rút quân về Trảng Bàng cố thủ”.
Sau đó, quân Pháp tiến đánh Trảng Bàng, quân của Lãnh binh Tòng kháng cự quyết liệt, nhưng binh lực ít, tuyến phòng thủ ngoài xa của ông chỉ chống giữ được trong một ngày đã bị quân Pháp phá vỡ; nghĩa quân của ông đành rút vào Tha La ẩn lánh. Ông cùng hai tùy tùng ở trong nhà một hương chức theo đạo Thiên Chúa. Tại đây, ông tiếp tục phát hịch chiêu mộ quân đánh giặc. Công việc mới triển khai được hai ngày thì bị lộ vì có kẻ phản bội, chỉ điểm cho quân Pháp về An Hòa bao vây căn nhà ông đang ở. Bọn Pháp bắn chết vị hương chức chủ nhà và người tùy tùng của ông, đồng thời bắt Lãnh binh Tòng cùng một tùy tùng khác và đày ông biệt xứ ra đảo Guy Am và ông chết ở đó.
 
3. Trương Quyền – Người tiêu diệt quan đầu tỉnh Pháp đầu tiên…
Theo sách “Lịch sử địa phương tỉnh Tây Ninh” do ông Nguyễn Ngọc Dũng chủ biên xuất bản năm 2011 hiện đang giảng dạy trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông đã ghi rõ: Trương Quyền là con trai Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định và bà Lê Thị Thưởng, người làng Gia Thuận, Gò Công Đông, Tiền Giang.  Thuở nhỏ ham tập võ nghệ, khi lớn lên đã tỏ ra là người dũng cảm, có chí khí và tinh thông võ nghệ. Năm 1859, Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định bất mãn với triều đình Huế đầu hàng Thực dân Pháp đã khởi binh chống Pháp, Trương Quyền theo cha ra trận lúc 17 tuổi.
Trong sách Sài Gòn xưa – Ấn tương 300 năm của nhà văn Sơn Nam đã viết:
“Yêu nước đậm đà, khảng khái trước nghĩa lớn, đứng hàng đầu trong phong trào kháng Pháp ở Nam Kỳ vẫn là Trương Định. Mang ơn vua, giữ đất cho vua (Gò Công là nơi phát tích của Phạm Đăng Hưng và con gái là bà Từ Dũ), nhưng chống lệnh khi cắt đất cho Pháp. Trương Định và dân đồn điền lợi dụng địa hình rừng ngập mặn Gò Công để khởi nghĩa, đắp đập, xây lũy. Giặc phải vất vả, tổ chức nội ứng mới giết được ông, qua nhiều cuộc hành quân cấp tướng, bố trí súng lớn trên thuyền nhỏ, để di chuyển nơi nước cạn. Địch phải đem xác ông phơi trước chợ để làm chứng cớ…và chôn ông giữa chợ, nếu chôn nơi hẻo lánh, e nghĩa quân lập đàn tế cờ, phục thù cho chủ tướng. Cụ Đồ Chiểu đã đem tất cả tâm huyết viết bài văn tế ông và 10 bài liên hoàn.
Mặc dù vua Tự Ðức đã phong làm Lãnh binh tỉnh An Giang, nhưng buộc Trương Định phải giải tán nghĩa quân, chấm dứt cuộc kháng chiến. Không thể chấp nhận nên ông không tuân theo lệnh bãi binh của triều đình và thuận theo lòng dân nhận tôn phong Bình Tây Ðại Nguyên Soái của nhân dân  (9 – 1862). Ông dựng cờ khởi nghĩa quy tụ được nhiều nghĩa quân và chỉ  trong một thời gian ngắn, lan rộng hầu khắp ba tỉnh miền Ðông, được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ.
Rất tiếc, khi cuộc khởi nghĩa đang phát triển mạnh mẽ thì  bị tên thuộc hạ việt gian Huỳnh Công Tấn dẫn lính Pháp bao vây. Tuy bị dồn vào thế cùng nhưng Trương Ðịnh và nghĩa quân của ông đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng và quyết không để rơi vào tay giặc ông đã rút gươm tử tiết vào ngày 20-8-1864, bảo toàn khí tiết trong sự thương tiếc của nhân dân Gò Công nói riêng và nhân dân Nam kỳ nói chung.
Nối chí cha, Trương Quyền đã dẫn quân về vùng Đồng Tháp Mười và An Cơ – Tây Ninh lập chiến khu tiếp tục kháng chiến. Ở đây, ông đã liên kết với lực lượng của: Thiên Hộ Dương, Phan Chỉnh, cùng các lực lượng của người: Khmer (do Pôkumpô lãnh đạo), Chăm, Stiêng, M’ Nông,…cùng tham gia. Nhờ vậy, lực lượng liên quân Việt – Khmer đã tổ chức đánh thắng nhiều trận: Rạch Vịnh, Trà Vang (Tây Ninh), Thuận Kiều (Chợ Lớn), Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng, Tân An, Uđông (Oudong, Cam Bốt)…gây được thanh thế lớn.
Ở Tây Ninh ngày 7 tháng 6 năm 1886, Trương Quyền tổ chức tấn công vào đồn Tây Ninh, giết chết tên chủ tỉnh Larclause, sĩ quan phụ tá Lasage cùng 11 lính. Pháp đưa viện binh từ Sài Gòn lên đánh trả, một cuộc đụng độ lớn đã xảy ra ở rạch Vịnh ngày 14 tháng 6 năm 1886, Thiếu tá Marchaise tử trận.
Lúc này, liên quân Việt – Khmer đã kiểm soát được một vùng rộng lớn giữa hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, từ Xvây-riêng (Campuchia) đến Trảng Bàng (Tây Ninh). Ngày 2 tháng 7 năm 1866, quân Pháp tổ chức tấn công căn cứ Trà Vong. Để tiêu diệt bằng được đối phương, Pháp tăng viện binh tấn công lớn vào rạch Vịnh lần nữa. Liên quân tổn thất nặng phải rời căn cứ.
Cuối tháng 7 năm 1866, Pôkumpô đưa quân về Campuchia chiến đấu (sau trong một trận kịch chiến, vị thủ lĩnh này đã bị thương, bị bắt và bị bêu đầu ngày 3 tháng 12 năm 1867).
Cuối tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp chiếm xong ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, phong trào kháng chiến ở nhiều nơi đã bị đối phương dập tắt hay làm cho suy yếu, nên quân Trương Quyền vừa thiếu thốn nhiều mặt vừa lâm cảnh thế cô. Vì thế, ông phải đưa quân rút vào rừng sâu ở Suối Giây, một nơi nghèo nàn, dân thưa, lúa ít ở phía bắc rừng Tây Ninh.
Ngày 28 tháng 7 năm 1867, quân Pháp bất ngờ mở cuộc tấn công vào Suối Giây. Nghĩa quân kháng cự quyết liệt, nhưng trước vũ khí mạnh của đối phương, Trương Quyền đành phải chia lính ra từng toán nhỏ, vừa đánh vừa rút lui, định về phối hợp với anh em Phan Tôn, Phan Liêm đang dấy quân kháng Pháp mạnh mẽ ở Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng…
Đến khi nghĩa quân tan rã vì thiếu vũ khí, lương thực, thuốc men; Trương Quyền rút quân về rừng Bến Kéo (nay thuộc xã Long Thành Nam, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) lập trại dưỡng bệnh và mất năm 1871 (Lịch sử địa phương tỉnh Tây Ninh, tr. 11).
 
Cuộc khởi nghĩa của cha con Trương Định, Trương Quyền là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong giai đọan đầu của phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Tuy cuộc khởi nghĩa tồn tại trong khoản thời gian (1859 – 1871) nhưng nó để lại nhiều ý nghĩa trên các mặt: Về sự quy tụ toàn dân đồng tâm hiệp lực cứu nước, về tính độc lập tự chủ của người lãnh đạo trong việc đề ra đường lối kháng chiến và cả sự phản kháng ly khai với triều đình yếu kém…
 
La Ngạc Thụy

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN