Hoài niệm về Long Phước mến yêu – Ghi chép Nghiêm Khánh

0
82

??????????????
??????????????

Mỗi lần được đi thực tế sáng tác về, là mỗi lần trong tôi như chiếc điện thoại được sạc đầy pin. Tôi hay ví von như vậy từ khi đã là hội viên của Hội VHNT tỉnh. Nên khi nhận được thông tin Phân hội Văn học tổ chức chuyến thực tế về xã Long Phước vào ngày 24.5.2016, việc riêng tư tôi xếp lại và trong tâm thế sẵn sàng. Biết vậy mà cứ háo hức mong đợi. Ngày đi cũng đã đến. Xuất phát từ trước cỗng bệnh viện huyện Hòa Thành. Xe đưa Đoàn văn nghệ sĩ (Đoàn) qua Gò Dầu, Bến Cầu hai địa phận thân quen, tôi thường hay đến. Nhưng vẫn chỉ là đi qua thôi. Chưa có dịp vào tận nông thôn sâu, nên tôi cũng chưa thấy hết được sự thay đổi của những vùng quê Bến Cầu mà tôi đã biết đến trong hoang tàn, nghèo khó, nằm heo hút ở gần biên giới khi chiến tranh giải phóng đất nước vừa kết thúc. Nhất là nơi tôi đã cùng đồng nghiệp có những năm tháng sản xuất tự túc cho đơn vị thời khó khăn. Có lẽ tôi mong là vậy.

Mỗi vòng bánh xe lăn trên đất Bến Cầu ngày mới, đều gợi nhớ trong tôi về muôn vàng khó khăn của của đất nước trong những năm đầu giải phóng. Nhiều cơ quan muốn có lương thực cải thiện cuộc sống phải tổ chức “biên chế” một đội chuyên sản xuất bằng nhiều cách khác nhau. Với đơn vị Thương Nghiệp huyện nơi tôi công tác- mượn đất ruộng một người quen của vị thủ trưởng lúc còn trong cứ, rồi phân công nhau xuống trực tiếp làm không được mướn. Đất tọa lạc tại nơi mà người dân địa phương hay gọi là “Bù Lu- Chói Nước”, biết là của huyện Bến Cầu còn tên xã thật tình nhớ mãi không ra. Cho nên khi nghe lãnh đạo phân hội bàn tới chuyến đi thực tế xuống xã Long Phước huyện Bến Cầu gần biên giới Campuchia, tôi hỏi thăm suốt và rồi cứ ngờ ngợ, miên man trong ký ức. Lẽ nào đây là nơi mình đã đến mấy mươi năm trước. Vậy là bao câu hỏi cứ đặt ra. Được nhận không ít câu trả lời của những người đang là cán bộ, viên chức, lãnh đạo xã…nhưng trong tìm thức tôi vẫn chưa nhận ra đâu là câu trả lời chính xác. Trong đầu cứ ngơ ngớ ra. Tâm trạng luôn bời bời. Nhiều lần tự nhũ: Mặc kệ nó. Nhưng rồi lại nghĩ đến…

Xe của Đoàn đến trụ sở UBND xã Long Khánh. Mọi người được mời vào hội trường của xã. Một cuộc gặp gỡ nhanh giữa lãnh đạo địa phương hai xã Long Khánh và Long Phước với lãnh đạo Phân hội Văn học tỉnh cùng tất cả anh chị em hội viên huyện, tỉnh diễn ra khoảng 20 phút nhưng thấm đẫm tình cảm giữa chủ và khách vì mục đích ý nghĩa chuyến đi được trao đổi chân tình. Anh chị em được biết, trước tiên- lãnh đạo địa phương sẽ đưa đoàn đến thăm Bàu Rong, căn cứ của Ban an ninh tỉnh thời kháng chiến nằm trên địa bàn xã Long Khánh, rồi qua Khu tưởng niệm TNXP. Không phải ghé qua UBND xã Long Phước vì như vậy sẽ trái lộ trình và mất nhiều thời gian di chuyển.

Đến Bàu Rong. Cả đoàn được thăm quan cảnh vật một thời xa xưa của khu căn cứ cách mạng. Tất cả chỉ còn đọng lại trong từng hơi thở của đất. Nơi đây đã từng nhuộm máu của gần 400 chiến sĩ an ninh hầu hết ở các địa phương trong tỉnh, một ít ở các tỉnh khác đến đây công tác và đã hy sinh qua các thời kỳ của cách mạng, được tạc bia tưởng niệm trên đất Long Khánh. Lực lượng Ban an ninh tỉnh đã trú quân trên mảnh đất Bàu Rong để hoạt động trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến đánh đuổi đế quốc, đã góp phần không nhỏ cho thắng lợi của cách mạng Miền Nam đến ngày thống nhất đất nước. Đoàn thắp hương tưởng niệm và được ôn lại chiến công cùng những hy sinh mất mác của quân dân cách mạng một thời cho đất nước được thanh bình hạnh phúc. Trong khóe mắt mỗi người có mặt, ít nhiều đều vướng chút cay cay, vương vấn bởi vừa đến đã phải sớm chia tay căn cứ. Chia tay anh linh những người đã khuất.

Đoàn di chuyển đến Khu tưởng niệm TNXP. Đây rồi một khung cảnh tươi xanh, đền, đài uy nghiêm rộng 5,6 ha hiện ra trước mắt anh em trong Đoàn chỉ cách biên giới 900 mét. Một thoáng xúc động mạnh trong tôi. Bao nhiêu là tin tức, hình ảnh, câu chuyện, bài báo nói về lịch sử những đội viên của Lực lượng Thanh niên Xung phong thành phố Hồ Chí Minh (TNXP TPHCM) hy sinh năm 1978 trên đất bạn, cách nơi chúng tôi vừa đến non 10 km, nhanh chóng hiện về. Nhớ nhất là bài viết của một người thân, nhà báo Đinh Phong tôi đã có lần đọc qua với tựa đề: “Có một ngã ba Đồng Lộc ở biên giới Tây Nam” từ mươi năm trước, đại ý nói về: “….Liên đội 5 Tổng đội 7, sau này là Liên đội 303 Tổng đội 3, đã sát cánh cùng Sư đoàn 7, Quân đoàn 4 từ tháng 6.1978. Tiền thân của Liên đội 5, Liên đội 303 là Liên đội Cơ động 12, thành lập ngày 27-3-1977 với 600 đội viên là những thanh niên còn rất trẻ, phần lớn cư trú tại Phú Nhuận. Ngày 14-6-1978, Liên đội 5 được lệnh lên đường ra mặt trận biên giới Tây Nam với 500 đội viên, trong đó có 65 nữ. Thời ấy họ náo nức ra mặt trận tham gia bảo vệ Tổ quốc. Địa điểm dừng chân là Rừng Nhum thuộc xã Long Phước, gần nơi Đoàn VNS chúng tôi vừa đến.

Liên đội có 4 đại đội, 3 đại đội được phân công theo các trung đoàn bộ binh tải gạo, tải đạn, cáng thương, chôn cất liệt sĩ…nói chung là phục vụ chiến đấu. Chỉ có Đại đội 3 được giao nhiệm vụ cùng 2 trung đội của Đại đội 2 phối hợp với Tiểu đoàn Công binh 25 làm nhiệm vụ chống lầy, sửa đường cho các loại xe pháo vào trận địa. Trên đoạn đường dài khoảng 10 km, từ Rừng Nhum qua ngã ba Ta Ei đến xã Koky Som trên đất bạn. Các trung đội chia nhau ăn ở dưới các cụm cây nhỏ. Ban ngày, anh chị em chặt cây chèn đường, san lấp đất lún…đêm về lót tăng ngủ láng dưới mặt đất.

??????????????
??????????????

Ngày 21-7-1978, Trung đội 3 do Đại đội trưởng Ngô Đức Minh dẫn đầu đã hành quân đến xã Koky Som làm nhiệm vụ chống lầy kịp cho các xe cơ giới của Sư đoàn 7 hành quân tấn công cụm quân của “Khmer đỏ”. Tối hôm đó, tất cả đội viên đều có mặt để sinh hoạt trước khi đi ngủ. Tiếng súng đạn, đại bác nổ rất gần, từ mọi phía. Anh chị em đề nghị Đại đội trưởng báo cáo về trên xin trang bị thêm lựu đạn và súng cho anh em vì lúc ấy chỉ có 2 khẩu AK. Trung đội có 9 đội viên nữ nên chị Nguyễn Thị Lý lo ngại, dễ bị bọn Pôn Pốt làm nhục khi đối mặt vì nghe nói chúng rất dã man, tàn ác. Chị muốn các bạn nữ có lựu đạn tự vệ, có bề gì thì “cưa đôi” với chúng.

Rạng sáng hôm sau, cả đơn vị thức giấc vì nhiều tiếng súng nổ gần đó. Một số anh em bám bờ ruộng, một số người chui vào hầm. 6 đội viên nữ là Thiên Hương, Đỗ Thị Vân, Ngọc Dung, Trần Thị Nhung, Nguyễn Thị Em, Trần Như Minh chui vào hầm. Nguyễn Văn Đủ ngồi chận ở cửa hầm. Nguyễn Thị Lý, Võ Ngọc Mai và Nguyễn Ngọc Mai nằm trên bờ ruộng. Nghe đạn nổ bên tai, chị Lý chạy vào hầm nhưng đã quá chật, chị nép vào mép hầm. Anh em Trung đội 3 nổ súng chiến đấu, nhưng địch khá đông đã ào tới. Tiếng la hét của bọn Pôn Pốt làm náo loạn cả cụm rừng.

Chị Lý giật mình khi một tên Pôn Pốt ném lựu đạn vào hầm anh em đang núp. Đủ ngồi ngoài cùng bị vỡ đầu chết ngã đè lên người chị. Sáu cô gái ở trong hầm đều bị thương khá nặng, kêu cứu thất thanh. Bọn Pôn Pốt ập đến, nắm tóc kéo các cô gái ra ngoài lột hết quần áo thay nhau hãm hiếp rồi bắn chết từng người một. Chúng phát hiện ra chị nằm ở bên cạnh, một tên bước lại xé hết quần áo trong và ngoài cười cợt khả ố. Song do thấy chị bị thương máu me đầy người lại lấm bùn sình, nên chúng dùng súng đánh chị rất dã man, rồi lấy dây điện trói quặt 2 tay dẫn đi. Một tên kề dao vào cổ định cắt đầu nhưng rồi lại bỏ đi. Một tên lấy lựu đạn nhét vào âm hộ chị và tiếp tục đánh. Khi có tiếng súng vang rền, bọn Pôn Pốt vội bỏ chạy. Chị Lý lăn vào bùn chết giấc.

Đến khi trời sáng, chi Lý nghe tiếng súng phản công của bộ đội ta nhưng không ngồi dậy được. Mãi xế chiều, một đơn vị bộ đội phát hiện nơi Trung đội 3 bị tàn sát. Chị nghe có tiếng chân người nhưng không dám cử động vì sợ bọn Pôn Pốt ở lại phục kích. Rồi chị nghe giọng Bắc của một anh bộ đội tri hô: “Các đồng chí ơi, ở đây có nhiều anh em hy sinh”. Chị gượng dậy. “…Có người còn sống”. Anh em ùa tới khiêng chị từ trong vũng bùn ra, hai tay bị trói chặt, người đầy máu me, thân thể lõa lồ… Một anh bộ đội cởi chiếc áo đang mặc khoác lên người chị. Hôm ấy có 24/26 đội viên đã hy sinh rải rác bên bờ ruộng, dưới các lùm cây, trong đó có Đại đội trưởng Ngô Đức Minh bị giặc đốt cháy. Chỉ có Nguyễn Thị Lý và Nguyễn Văn Tuấn còn sống nhưng bị thương rất nặng. 8 đội viên nữ đều bị đánh đập dã man, bị làm nhục trước khi chúng xả súng giết hại, một người khác bị chặt cả hai chân. Xác 24 đội viên hy sinh được đặt nằm trên bờ ruộng. 8 cô gái, chỉ có Nguyễn Thị Em 24 tuổi, 16 đội viên nam, trừ Nguyễn Văn Thông và Bùi Văn Hoàng 24 tuổi, còn lại hầu hết ở tuổi 19, 20. Chỉ Nguyễn Trọng Hùng và Lý Anh Dũng mới 17 tuổi…”, Chuyện thời chiến tranh chống Pôn-Pốt diệt chủng diễn ra ở vùng biên gần xã Long Phước là vậy.

38 năm đã qua đi, nhưng tấm gương chiến đấu và lao động dũng cảm, sự hy sinh vẻ vang của 24 chiến sĩ Trung đội 3 Đại đội 3 Liên đội 5 TNXP TPHCM nơi đây vẫn mãi mãi sống trong lòng mọi người. Những ai tận mắt nhìn thấy những kỷ vật, tên tuổi, hình ảnh của các anh chị em được trưng bày trong nhà truyền thống đều nghe lòng mình quặn thắt, chết chóc đau thương như mới vừa xảy ra trên mảnh đất vùng biên gần Long Phước đáng yêu nầy.

Buổi cơm chia tay với anh chị em, lãnh đạo địa phương hôm ấy, buồn vui trong tôi cứ đầy vơi. Vui vì quen biết được thêm nhiều người bạn mới, nhìn thấy được đất trời Long Phước thay đổi quá nhiều và đã là xã nông thôn mới. Tất cả tạo thành bức tranh đồng quê đầy sức sống đang tỏa sáng. Buồn vì những mất mác đau thương ngày nào đối với anh chị em TNXP TPHCM đã phải tiếp tục hy sinh khi đất nước vừa thanh bình sau mấy mươi năm chia cắt. Có điều được tâm sự cùng anh chị em công tác và sinh sống ở Long Phước, tôi đã khẳng định được vùng “Bù Lu-Chói Nước” mà lâu nay mình mãi nhớ đến, xưa thuộc xã Long Phước nay thuộc xã Long Giang. Nơi có những đám ruộng sâu của gia đình ông 8 Rân (đã mất) mà đơn vị tôi đã từng mượn sản xuất lúa, đất nằm về hướng Đông và không xa lắm với căn cứ Bàu Rong, nằm về hướng Đông Nam Khu tưởng niệm TNXP, cách trung tâm xã Long Phước ước chừng hơn 4 km. Và biết được tin người đồng chí nữ quê hương Thái Bình vào Nam công tác ở đơn vị tôi, qua những lần cùng đi sản xuất đã phải lòng và lấy anh “C” người con trai xứ “Bù Lu- Chói Nước” làm chồng vào đầu năm 1978, mang căn bệnh ngặt nghèo đã chết gần chục năm qua.

Tôi chỉ tiếc là chưa tìm thăm được anh “C”. Dẫu sao anh ấy cũng vừa là rể vừa là người ân của đơn vị tôi, giúp chúng tôi về kỷ thuật gieo, nhổ mạ, cấy lúa…năm nào, để chúng tôi có gạo ăn mà không phải độn nhiều thứ. Thế là những câu hỏi của tôi về “Bù Lu- Chói Nước” mấy mươi năm qua đã rõ, chính là một phần của đất Long Phước cũ, nơi tôi cùng đồng nghiệp đã có những tháng ngày ăn uống, hít thở không khí của đất trời nơi nầy mà sống. Mừng cho đất Long Phước đã không còn là một cánh đồng ruộng hoang vu, thiếu sự sống vào ban ngày, tối mù mịt vào ban đêm, không điện, thiếu nước sạch, không trường học, không trạm y tế chữa bệnh…giờ đây đã thay da đổi thịt, người dân có gần như đủ những phương tiện tối thiểu cần thiết cho cuộc sống hằng ngày.

Vậy mà ra về rồi- lòng tôi vẫn còn đọng lại mênh mang bao nỗi xót xa, nhung nhớ về hình ảnh đau thương của các đội viên lực lượng TNXP TP HCM một thời đã xa, nhất là các chị nữ tuổi đời hãy còn quá trẻ đã phải anh dũng hy sinh, bị làm  nhục bởi giặc Pôn- Pốt khi trong tay không một tấc sắt để tự vệ.

5.2016

Nghiêm Khánh

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN