Đóa hoa mọc lên từ cõi chết – Erich Maria Remarque (Nguyễn Khánh Tuyết Vy dịch)

0
51

Erich_Maria_Remarque

 

   Lời tựa cuốn tiểu thuyết Một thời để yêu và một thời để chết của tác giả Erich Maria Remarque (dịch giả Cô Liêu, nhà xuất bản An Tiêm) khẳng định: Tính cách lãng mạn trữ tình của Remarque là một đóa hoa mọc lên từ máu và bùn. Đóa hoa ấy trong tác phẩm Một thời để yêu và một thời để chết đã được nhà văn làm nổi bật như để minh chứng cho tình yêu và hy vọng có thể mọc lên từ đau thương và chết chóc. Đóa hoa ấy đã mọc lên đầy sức sống giữa một vùng đất đầy rẫy cuộc oanh tạc phi cơ, những trận bom dội, hàng ngàn con người níu lấy sự sống còn nơi hầm núp… Đóa hoa ấy đã mọc lên trong những ngày nghỉ phép của chàng Graber, nơi chàng trở về từ mặt trận thảm khốc để rồi đau lòng trước cảnh hoang tàn nơi quê nhà, nơi chàng đón nhận tình yêu của nàng Elizabeth.

   Nhà văn Erich Maria Remarque sống trong thời kì Đức Quốc xã, từng tham gia nhiều cuộc chiến tranh. Ông nhận ra tính vô nhân đạo, sự tàn ác, độc tài của chủ nghĩa Đức Quốc xã. Remarque đã phê phán và đả kích những hiện thực đó qua nhiều cuốn tiểu thuyết trong sự nghiệp lớn lao của ông. Trong số những quyển sách ấy, Một thời để yêu và một thời để chết không chỉ phê phán hiện thực của cuộc chiến phi nghĩa giữa Đức – Nga và hậu quả của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, câu chuyện còn chứa đựng cả câu trả lời xác đáng cho câu hỏi: Thế nào là lý tưởng sống cao đẹp cho giới trẻ?

   Đó là câu hỏi mà thế hệ trẻ của đương thời, hiện tại và tương lai đều khát khao đi tìm lời đáp với hoài nghi, hoang mang vì giá trị xã hội luôn thay đổi theo thời gian. Bước vào cuốn tiểu thuyến này, ta sẽ bất ngờ khi tác giả làm bật lên trong mỗi người trẻ một quan niệm nhân sinh độc đáo, một cảm thức sống khi ta nhìn thẳng vào hiện thực đời sống vả cảm xúc. Lý tưởng sống chính là ước mơ khiến bản thân mỗi người sống tốt đẹp hơn và góp phần xây dựng xã hội, lý tưởng sống không đi ngược với tình thương nhân loại và không mang bóng dáng của chiến tranh và chết chóc.

   Cuốn tiểu thuyết mang những mức độ khác nhau của sắc màu: đen tối của chết chóc, tươi sáng của tình yêu. Những mức độ ấy được đặt xen kẻ, nối tiếp trong bức tranh hiện thực đó. Tất cả mọi hình ảnh và mọi tình cảm đều được Remarque khắc họa và thể hiện rất rõ ràng, đậm từng đường nét.

   Ông mở đầu câu chuyện bằng cảnh tượng những xác chết đầm trong tuyết và bùn, thật ấn tượng và đầy ám ảnh: Miệng họ đầy tuyết đã tan ra nước, nom như họ chết đuối vậy. Có khi chân tay tan tuyết trước thân mình, có khi khiêng xác đi, một cái tay hay một cái cẳng đong đưa lủng lẳng với điệu bộ thản nhiên ghê tởm, gần như bỉ ổi. Khi có tia nắng chiếu vào thì hai mắt rã tuyết trước nhất, mắt không còn sắc trong vắt của người chết, con ngươi trở thành keo. Những giọt nước mắt đặc quánh ứa dần ra. Không cường điệu hóa, không lẩn tránh hiện thực đáng sợ; tác giả miêu tả những thây ma tanh bẩn và đáng kinh hãi. Bộ mặt lạnh lùng và khủng khiếp của chiến tranh hay của thần chết! Đó là sự thật mà hầu hết những ai chưa tham gia cuộc chiến không thể hình dung nổi vì những lời huyễn dụ của nhà cầm quyền. Miên man theo những dòng văn của Remarque, tượng đài vinh danh cho sự hy sinh anh dũng của người chiến sĩ không gì khác ngoài những thây ma đáng ghê tởm được người ta chôn xuống hố bùn tuyết nhớp nhúa như vất đi một của nợ.

   Nhà cầm quyền Đức Quốc xã đã huyễn hoặc mối hận thù giữa hai dân tộc, lòng tham, sự giết chóc thành lòng yêu nước. Tuổi trẻ Graber đã nhiệt thành đi theo tiếng gọi của tổ quốc, chàng không hiểu nổi sự tàn ác của chiến tranh và tất cả những gì ở đằng sau nó là nỗi bất hạnh và ghê tởm. Chàng nhận ra lý tưởng chiến đấu cho đất nước mà trước kia chàng theo đuổi chỉ là sự dối trá. Nỗi thất vọng ấy cứ âm ỉ cùng năm tháng trong lòng chàng và những người trẻ tham gia quân đội như chàng khi họ chứng kiến những điều bất nhân bất nghĩa, cách mà Steinbrenner cư xử với một lão già người Nga khi lão đào huyệt chôn tù binh người Nga theo lệnh những người lính Đức: Steinbrenner nhảy đến nơi tát lão một cái mạnh như trời giáng: “Đã bảo câm miệng mà, ông nội! Ông không biết ông ở đâu à? Ở đám hội chắc!”. Y mỉm cười quay trở lại. Trên mặt không có vẻ gì độc ác, chỉ có cái thích thú của đứa trẻ ngồi vặt chân con ruồi để chơi.

   Từ giới quân nhân đến thường dân, những tháng ngày trôi đi trong chán nản và thất vọng đến không cùng. Cuộc chiến tranh phi nghĩa, cuộc chiến tranh xâm lược nước Nga đã gần đến ngày tàn mà thiệt thòi nhất thuộc về người dân Đức. “Chúng ta mất cả ý thức về sự bình thường rồi. Đã mười năm nay người ta giam hãm chúng ta trong thái độ kiêu căng, vô nhân đạo, tội lỗi, một thái độ vô nhân đạo bốc thấu đến trời. Người ta bảo chúng ta là chủng tộc làm thầy thiên hạ, người khác phải phục tòng chúng ta như những tên nô lệ.. Làm thầy thiên hạ, điều tưởng chừng như là ánh sáng vinh quang và tự hào của một dân tộc nhưng một người bạn của Graber đã bày tỏ với chàng bằng thái độ công kích và giọng điệu cay đắng, phẫn uất. Pohlman – thầy giáo cũ của Graber cũng đã ý thực được từ lâu thảm họa của chiến tranh và sự độc tài của chế độ, đã thổi vào tâm hồn Graber một luồng sinh khí mới mẻ sâu xa. Đây là quan niệm của Pohlman về mâu thuẫn giữa thế giới tri thức và thế giới của mật vụ và những tội ác: “Hai thế giới ấy không thể dung hòa được với nhau. Chúng nó đồng hiện diện và đứng độc lập đối với nhau, thế thôi.”.

   Hình ảnh vị giáo sư già Pohlman tượng trưng cho tri thức và chân lý, trái ngược với bạo tàn và giết chóc. Với ông, tàn bạo và giết chóc không thể là lý tưởng đẹp và chân lý dù cho điều tàn ác đó được thổi phồng lên thành chủ nghĩa dân tộc và được khơi nguồn cho chiến tranh. Chế độ độc tài Hitle từ cho nước Đức là bá chủ thiên hạ, là bất khả xâm phạm. Thế nhưng, chỉ có nhà cầm quyền mới thực sự hưởng lợi từ các cuộc chiến tranh, còn đời sống của nhân dân và quân nhân thì vô cùng khổ cực, bất hạnh, mất tự do hơn bao giờ hết.

   Trong đời sống khổ đau, những bi thương tưởng chừng không gì xoa dịu nổi. Nhưng thật bất ngờ và thần kì, Remarque khiến chúng ta dẫu không muốn cũng phải tin rằng: Sự sống và tình yêu có một sức mạnh kì lạ và có thể hồi sinh ở bất cứ nơi đâu, kể cả một vùng đất lầy lội bùn và máu! Tình yêu nồng nàn giữa Graber và Elizabeth, giữa hai con người mà chiến tranh đã chôn vùi tuổi xuân của họ xuống nỗi đau, xuống nỗi hoài nghi cay đắng, xuống nỗi lo sợ cái chết chỉ cách họ một ranh giới mong manh: Y nhìn Elizabeth, nàng đã góp phần vào niềm hân hoan tràn ngập người y. Đó là phương diện bất ngờ của đời sống, cái gì bất thần vươn lên trên giới hạn sự thiết dụng, cái hương vị của tuổi trẻ, cái phần say sưa của vui chơi và mơ mộng.. Như hai con chim lạc loài giữa vùng trời bão tố, họ đã gặp nhau, che chở nhau vượt qua những mối đe dọa, những điều tàn nhẫn mà bọn lính mật vụ giáng xuống đầu những người dân không sức phản kháng.

   Trong đời sống con người, muốn tìm ra một triết lý, muốn ý thức về cuộc sống tươi đẹp; đôi khi người ta phải trả cái giá thật đắt bằng chính tuổi trẻ của họ, đau thương của họ. Trong thời bình, Graber không nhận ra triết lý sống đó nhưng khi lý tưởng của chàng tan vỡ, khi chàng phải đối mặt với khói lửa mặt trận và cảnh điêu tàn nơi quê nhà; rồi trong sự thật phũ phàng đó, chàng bỗng chốc được ngồi ăn cùng nàng Elizabeth trong một nhà hàng sang trọng và ấm cúng, chốn tiên cảnh tồn tại nơi địa ngục của đạn bom, chàng mới cảm được sự tinh tế của cuộc đời bình yên như một mặc khải bất thần: Mỗi vật, mỗi người đều có giá trị biểu tượng, biểu tượng cho một đời sống khác hẳn, không có tàn phá giết chóc, biểu tượng cho đời sống ấy bây giờ gần như chì là một huyền ảnh xa xôi, một ước mơ không mong gì thực hiện.

   Câu chuyện còn châm biếm cả thói tật buồn cười của những sĩ quan Đức đương thời; đó là những kẻ háo danh, tham lợi, ngốc nghếch, rỗng tuếch và nông cạn. Một ông sĩ quan đã sỉ vả Graber khi chàng trong trang phục dân sự đứng lại chào ông theo lối nhà binh, ông rọi đèn vào mặt Graber và mắng: “Một quân nhân đi dép trong nhà, mặc đồ đi chơi! Chà! Nhàn rỗi quá nhỉ! Tại sao anh không ở mặt trận?”.

   Có chiến tranh xảy ra, mọi trật tự đời sống đều bị đảo lộn, mọi giá trị nhân phẩm cùng quyền tự do chính đáng của con người cũng bị cướp mất. Một cảnh tượng có thể khiến ta cười ra nước mắt, cảnh tượng các cảnh binh lục soát để đưa những thương binh ra khỏi xe, không cho phép họ về nhà nghỉ dưỡng mà bắt họ phải nằm viện để họ sớm trở lại quân ngũ. Những thương binh lo sợ đến nỗi họ chen nhau liều trốn vào cả… cầu tiêu! Có người kiên quyết không xuống xe, người cảnh binh liền ôm lấy anh thương binh nhấc bổng lên như một gói đồ. Anh thương binh kêu to nhưng nét mặt vẫn không thay đổi. Hình ảnh khá hài hước mà cũng thật chua xót, tuổi trẻ của người chiến sĩ đã bị lợi dụng đến thế, đến cả lúc mà lẽ ra họ có quyền nghỉ ngơi thực sự để đền bù lại những tổn thương thể xác mà cuộc chiến đã gây ra cho họ.

   Không trực tiếp can thiệp vào câu chuyện bằng cảm nghĩ cá nhân mà để cho hiện thực tự phơi bày, rồi kết luận như một người ngoài cuộc dửng dưng: họ vác anh ta đi không đến nỗi phũ phàng lắm, họ làm một công việc vô nhân tínhhầu như không liên quan gì đến họ và người thương binh; Remarque đã gián tiếp phê phán sâu sắc chủ nghĩa Đức Quốc xã bằng một bức biếm họa nho nhỏ.

   Bao trùm toàn bộ những chương tiểu thuyết chủ yếu vẫn là những mảng màu ảm đạm, lạnh lẽo, chết chóc, chỉ đôi khi le lói lên chút màu sắc tươi vui của thiên nhiên và của tình yêu. Cây bồ đề vươn thẳng cành lá xanh tươi lên bầu trời, một cái cây to trổ hoa sớm nhờ hơi nóng của làn khói trong trận cháy ngôi nhà gần đó, một con én bay lượn quanh tháp chuông nhà thờ… Nhưng tất cả cũng chỉ lóe lên trong khoảnh khắc rồi trả lại cho thế giới màu sắc lạnh lẽo như một điều tàn nhẫn hiển nhiên của thời chiến. Tất cả đau thương đó như những hòn than đỏ rực cháy trong tâm hồn Graber, vì đâu mà chàng thất lạc cha mẹ? Vì đâu mà cha của Elizabeth cùng hàng trăm người vô tội bị tống vào trại tập trung và chịu đựng sự hành hạ dã man? Vì đâu mà có cảnh đứa con gái nằm sóng sượt, hai tay bắt chéo, chiếc váy ngắn hất lên để lộ hai đùi khẳng khiungười trưởng xóm mất hẳn đầu, người nát bấy, khớp xương hình như xoay ngược lại, hai chân quặp vào vai trong trận dội bom?…

   Nếu chàng từng hổ thẹn khi thấy mình độc ác vì chàng đã theo đồng đội đi xâm lược nước Nga và bắn giết không biết bao nhiêu người vô tội yếu thế, thì giờ đây, một ý niệm mới về sự sống đã đánh thức chàng trong đau đớn và hận thù đến tận cùng mối căm thù không còn kiêng nể gì công bằng đạo đức và không nghĩ đến sự giao hảo trở lại với lân bang.. Thân nhân của chàng bị đe dọa, làng xóm của chàng bị đe dọa, bạn bè chàng mang thương tật vĩnh viễn, thì chính chàng cũng đang đến gần kề cái chết. Một chế độ tàn ác sẽ không chừa một ai dù người đó cống hiến đời mình cho nó.

   Khi đó, Graber chỉ muốn mọi hồ sơ của bọn lính mật vụ cháy thành tro bụi để cứu sống những người dân sắp bị chúng bắt vào trại giam, chỉ muốn bóp cổ Heine – một tên mật vụ hiểm ác xem việc giết người là trò chơi gây cho hắn hứng thú: “Coi chúng nó nhảy lồng lên vì bỏng mà không nhịn cười được. Ở bên Nga thật thú vị.”. Cũng vì thế, ý nghĩ giết Heine nhóm lên trong chàng khiến chàng đi nhanh hơn, thúc đẩy bởi một sức mạnh bất khả kháng, sức mạnh tạo ra vì ý niệm công bình, vì ý nghĩa chuộc tội lỗi giết bao nhiêu người từ trước đến nay. Ý nghĩ giết tên lính mật vụ Heine ban đầu chỉ mang tính giả thuyết để giải thoát tâm trạng rối ren, nhưng sau đó đã biến thành ám ảnh về khát vọng hòa bình nhân loại. Sự căm thù sôi nổi chủ nghĩa độc tài như một thứ men rượu cực mạnh có thể xui khiến chàng làm bất cứ điều gì.

   Tuổi thanh xuân là quãng thời gian đẹp nhất đời người. Thế nhưng, cảm xúc của Graber khi chàng đứng trước tấm gương ở một cửa tiệm may lại là cảm giác khắc khoải lạnh lùng hầu như xa lạ với mình. Không phải là sự khủng khiếp về thể chất, không phải bản năng bảo tồn sự sống tập trung sinh lực lại để chống cự, chạy trồn hay chờ đợi; đó là một thứ sợ hãi bình lặng len lỏi khắp châu thân, cái sợ lọt qua kẽ mọi cố gắng thống trị nó, một tuổi trẻ đầy nỗi sợ và ý nghĩ tiêu cực, một tuổi trẻ như một cái bao mất hết ruột ở trong, chỉ một cơn gió nhẹ cũng thổi bay, một tuổi trẻ tàn lụi sức mạnh tinh thần! Remarque không lảng tránh bất kì một xúc cảm nào, không lý tưởng hóa nhân vật. Chàng chiến sĩ Graber dũng cảm nơi trận mạc, nhưng sự dũng cảm đó không phải không đi cùng nỗi sợ. Nỗi sợ cũng là một bản năng sinh tồn của con người. Chính nỗi khiếp đảm chế độ độc tài, nỗi lo sợ cho số phận cha mẹ và người yêu, cho tương lai đen tối của đất nước và của cả chính chàng… Graber bằng mọi giá đã vươn lên giữa cuộc sống nghiệt ngã để cứu lấy Elizabeth và cứu lấy chính mình. Với Remarque, tuổi xuân tươi đẹp chính là tuổi xuân mà người ta ý thức được lẽ sống của họ là quan trọng, dù ý thức ấy được phát sinh trong hoàn cảnh nào.

   Tiếu thuyết Một thời để yêu và một thời để chết mang nhiều giọng văn khác nhau: châm biếm, triết lý sâu xa, lãng mạng, siêu thực. Những hình ảnh đau thương được Remarque miêu tả bằng trí tưởng tượng lạ kì của ông với bút pháp tả thực khiến chúng trở nên ghê rợn, ma quái. Không e ngại và không né tránh, ông đi thẳng vảo chiều sâu tâm thức con người, khơi dậy những gì khó hiểu nhất. Mọi ước mơ và khát vọng chỉ còn là cảm giác bén nhạy: cái sợ mở ra một vực thẳm hư không hút lấy con người làm người ta tê liệt cả máu xương da thịt lẫn đến đời sống. Ngôn từ giản dị mà mạnh mẽ, đầy sức gợi, mở ra nhiều khía cạnh nội tâm và cuộc sống.

   Hầu hết các tác phẩm văn học từ trước đến nay; các nhà văn vẫn thường đưa cái đẹp hoàn hảo, cái đẹp tuyệt đối để gây ấn tượng cho tác phẩm của họ. Nhưng ở Một thời để yêu và một thời để chết, chúng ta chỉ bắt gặp vài nét giản dị của một người con gái đẹp mà tác giả vẽ ra: một mái tóc nâu mềm, một đôi lông mày cong, một đôi mắt tối, một chiếc áo màu hoàng yến. Người con gái như đến từ bóng tối, nhẹ nhàng bước ra từ vùng sáng le lói trong ngôi nhà tối tăm, nhưng nàng là một cô gái tiềm ẩn nghị lực mạnh mẽ dù cho biết bao nghịch cảnh oan trái đã giam đời nàng vào bóng tối của chiến tranh. Đọc Một thời để yêu và một thời để chết, ta phát hiện cuốn tiểu thuyết ghi lại rõ nét hơn cả lịch sử, ghi lại không chỉ cả thời kì mà cả những mảnh đời của những lớp người bình dân trong thời kì đó, nỗi niềm của họ.

   Qua người thầy giáo già Pohlman trong truyện, ta như nhìn thấy đâu đó thấp thoáng đôi mắt trầm tư của ông lão Albert Einstein – nhà khoa học vĩ đại của thế giới cũng từng trải qua thời kì ấy với rất nhiều cảm nhận sâu sắc về chiến tranh và khát vọng hòa bình được thể hiện qua tác phẩm do chính ông viết Thế giới như tôi thấy. Với ánh mắt đăm chiêu, ngời sáng, hiền từ; Einstein mang trái tim đầy tình thương nhân loại vô bờ khi ông viết: Chủ nghĩa anh hùng phục tùng mệnh lệnh, bạo lực mù quáng, trò hề ái quốc tởm lợm, tôi căm ghét chúng làm sao. Với tôi, chiến tranh thật đê tiện và đáng khinh làm sao.

   Như một khúc sông chảy chậm, chuyện tình giữa chàng Graber và nàng Elizabeth được kể bằng ngôn từ và hình ảnh nhẹ nhàng, đáng yêu, trầm lắng hơn. Câu chuyện của Remarque không chỉ cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về chiến tranh và hòa bình, đó còn là một bài học thiết thực về con đường đến tri thức. Graber và Elizabeth không chỉ tượng trưng cho tuổi trẻ yêu chuộng hòa bình của thời kì Đức Quốc xã, họ còn mang ước vọng mà tuổi trẻ hôm nay nên hướng đến – ước vọng cuộc sống thanh bình và cái đẹp tri thức phải mang đến cho con người một cảm thức sống. Cái đẹp của tri thức là cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính (theo Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy), chứ không phải là sự chiến thắng trong những kì thi đầy áp lực lấy đi tất cả những gì trong cuộc sống mà người trẻ lẽ ra phải hiểu và cảm nhận, càng không phải là những thành tích khen thưởng trong giáo dục.  

   Có quan niệm cho rằng: Dân giàu thì nước mạnh; theo tôi, một đất nước phát triển và văn minh thực sự phải là một đất nước giàu bản sắc dân tộc, thế hệ trẻ giàu lòng yêu vẻ đẹp tri thức và lấy việc cống hiến tài năng của mình để xây dựng xã hội. Lòng yêu cái đẹp của chân, thiện, mỹ làm nền tảng cho lý tưởng; lý tưởng đẹp sẽ làm nên lòng yêu nước chân thành, và tình yêu đó không dễ bị lạm dụng bởi bất cứ thế lực nào: Lý tưởng của tôi, lý tưởng soi đường và luôn làm dâng đầy trong tôi là niềm cảm khái yêu đời là Thiện, Mỹ, và Chân. (Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy). Lý tưởng sống cao đẹp hướng đến việc con người góp phần kiến thiết nên một đất nước thanh bình, tươi đẹp chứ không phải chỉ hướng đến sự giàu có về vật chất.

   Đóa hoa ấy, đóa hoa mọc lên từ bùn và máu, đóa hoa chỉ nở khi Graber khép mắt: Bất thần y thấy trước mắt mình hiện ra cỏ xanh, một đóa hoa yêu kiều, cánh hoa thanh tú, nhị ửng hồng, hình ảnh lớn dần, như  y đã từng trông thấy một lần, không biết từ bao giờ. Cánh hoa nghiêng nghiêng tỏa lớn khắp chân trời, nở ra trong yên lặng, cánh hoa tỏa ra khắp bầu trời cái vũ trụ bình yên tí hon của nó. Tác giả kết thúc truyện bằng cái chết của Graber và sự thua cuộc của đội quân Đức, một cái kết đầy bi thương nhưng lại là cái kết mở ra một khoảnh khắc trong ngần, một cuộc sống hạnh phúc cho thế hệ sau. Graber không chết vì những cuộc oanh tạc dữ dội trong chiến đấu, không chết vì những trận bom. Chàng chết vì những tù binh Nga được chàng giải thoát cho, họ đã nổ súng bắn chàng, phải chăng lòng nhân đạo đã giết chàng? Một cái chết đầy nỗi đau và sự hối hận đến vô cùng tận, chàng vẫn an nhiên nhắm mắt, gửi niềm đau vào cõi thiên thu.

   Không chỉ ngợi ca tình yêu đôi lứa sắt son tuyệt vời, cuốn tiểu thuyết Một thời để yêu và một thời để chết còn cho người đọc thấy tình yêu nơi những bông hoa mọc lên trong khói lửa mà tỏa rạng chân lý. Đóa hoa mọc lên từ chết chóc đau thương sao tỏa hương thanh khiết cả vũ trụ bình yên tí hon của nó! Thế giới ấy bình yên mà sống động đến vô ngần, nhỏ bé mà lớn lao đến vô tận!

   Erich Maria Remarque đã để lại cho đời một đóa hoa kỳ diệu mọc lên từ cõi chết. Đóa hoa đã nở ra tình yêu vĩnh hằng, đã nở ra cả khoảng trời tươi đẹp, hạnh phúc…

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN