BIỆT XỨ – Truyện ngắn Hoàng Khánh Duy

0
16
 trăng núi                                                
 Xóm giờ đã vắng…
 – Chắc phải đi đến đó thử một chuyến thôi, má con Thu à.
 – Phiêu lưu quá, tui với ông lại không biết đường biết xá. Chim trời cá nước, biết đâu mà tìm hả ông?
 – Khó cỡ nào cũng phải đi thử. Cũng là máu mủ ruột rà, bỏ sao cho đặng hả má nó?
 Má biết một khi ba quyết định một là một, hai là hai không thay đổi được nên má im re không nói nữa. Má lúi húi lấy chai dầu lửa treo trên vách nhà, chăm vô cây đèn trứng vịt tù mù, dịch ngọn đèn dầu cho sáng. Trong bóng tối mờ mờ ánh sáng ngọn đèn như xua đi cái quầng đen đang bủa vây không gian căn nhà thăm thẳm ra tận ngoài bãi sông. Trong cái yên tĩnh của ruộng đồng vang lên tiếng kêu thắt thẻo của con bìm bịp ăn đêm đậu trên đám bần ổi ngoài bến nước, nghe buồn não nuột.
– Nghe dì Ngàn nói tháng trước xuống miệt dưới lấy dầu lửa nước mắm về bán, thấy thím nó ngồi bán hàng bông ngoài chợ, cái áo bà ba vá chằn vá đụp trên vai.
– Có chắc là thím nó không hả ông? Biển người mênh mông. Biết chú thím có trôi dạt tới xứ đó không, còn sống hay đã chết. Mười mấy năm bặt vô âm tín rồi còn gì…
 Ba nằm trên bộ vạc tre, tiếng ba thở dài ngao ngán. Má ngồi trên ghế, đập muỗi. Thi thoảng má dặng hắng mấy tiếng khan “Chậc, tháng này muỗi dữ ba con Thu”. Thu nằm trong buồng ngáp dài thườn thượt mà vẫn chưa ngủ. Lạ thật, đôi khi ngáp đến chảy nước mắt ướt cả gối mà vẫn không sao chợp mắt được. Nghe má nhắc đến chú đến thím, Thu buồn đến tan chảy cả lòng.
 Thu không nhớ rõ hình ảnh của chú thím ngày xưa như thế nào, vì hồi ấy Thu còn nhỏ, còn là một đứa trẻ con choi choi ngày rong ruổi trên đồng bẫy chuồn chuồn, thả diều, cắt cỏ, đêm nằm gối đầu trên đùi má nghe má kể chuyện Thạch Sanh chém chằn rồi ngủ quên lúc nào không hay. Một chút kí ức còn xót lại trong Thu : người thím có mái tóc dài chiều chiều ra bến sông ngồi giặt đồ, chải tóc, là người chú hiền từ mỗi lúc đi đồng đi ruộng về có con cá lóc to bằng cườm tay là thẩy vào bảo má “đốt lửa nướng cho con Thu nó ăn, cá lóc mùa này ú dễ sợ”. Nhà chú thím với nhà ba má Thu cách nhau một con mương nhỏ rau muống bò chằng chịt. Đó là những kỉ niệm đẹp vẫn đọng lại trong tâm trí Thu, mỗi khi nhắc đến chú đến thím là những kí ức ấy lại vụt nhanh qua lòng. Khác hẳn cái hình ảnh người thím dữ dằn cầm chổi quện vào lưng má những nhát đau đớn.
 
 Chiếc ghe xuôi về xóm Củi Đước.
 Mùa hạn. Nước dưới kinh loang loáng màu đỏ bầm như trái sắn. Chiếc ghe tam bản chở ba con người rẽ nước chạy về Củi Đước. Đường về đó xa, ghe đi không nghỉ cũng mất hai ba ngày trời chứ chả chơi. Ba ngồi sau lái điều khiển chiếc máy ku- le khẹt ra khói, tiếng máy nổ giòn giã. Má ngồi trước mũi, xõa tóc con Thu ra bắt chấy. Từ sáng đến giờ ghe dừng mấy bận để ba hỏi đường, sẵn cho cái máy cũ kĩ “nghỉ mệt”, chạy quá chịu gì nổi. Ghe dừng thì má thổi lửa, nấu cơm trong mui ghe. Khói tỏa lên trắng xóa bay đi vô định rồi bàng bạt ra mặt sông. Má bảo “Đi đường xa, cũng không biết phải đi bao lâu, tung tích chú bây mơ hồ quá Thu à”, má dọn nồi niêu xoong chảo, cái cà ràng nhỏ xuống ghe để nấu cơm dọc đường. Chuyến này có khi cũng mười bữa nửa tháng mới quay lại.
 Ghe chạy vào con mương nhỏ nằm vắt ngang cánh đồng. Trời nắng rệu rã nên phèn vẩn lên đọng trên mặt nước từng váng to đùng khô khốc. Tiếng nước văng giòn tan. Ba ngồi sau lái, đăm chiêu. Trên trời nắng, hai bên ruộng đồng vắng tanh. Chắc vụ gặt vừa xong, gốc rạ còn lưa thưa nằm thè lưỡi vật vã trên đồng như muốn cháy đi vì nắng. Cỏ dại cũng buồn xanh. Rõ là “cánh đồng chó ngáp”. Hồi còn sống có lần ông nội kể Thu nghe về vùng đất khô cằn nứt nẻ cây không thèm mọc, cỏ xanh cũng chết dần chết mòn đi vì nóng. Người ta lánh xa nơi đó như lánh xa một bãi tha ma. Có lẽ ông nội đã kể cho Thu nghe về cánh đồng này chăng?
 Thu chột dạ… Qua khỏi cánh đồng, Thu ngoái lại nhìn, lòng vẩn vơ tiếc nuối.
 …
 –  Chị hai, cho tui hỏi ở đây có Tư Hiền bán hàng bông, đội nón lá, mặt áo vá chằng vá đụp hôn?
 – Dân chợ này ai đâu biết hết mặt mày. Sáng bán chiều đi, sao tui biết cái bà Tư Hiền gì gì đó. Mà để tui nhớ coi, Tư Hiền… có cả chục bà Tư Hiền có tên đó chứ ít ỏi gì đâu.
 Người đàn bà lảnh lót. Mặt bà vênh vênh, tóc rối bù, cái môi cong vảnh vảnh lên ra vẻ chợ búa.
 – Chị hai gáng nhớ giúp tui, Tư Hiền bán hàng bông, mặc áo rách.
 – Để coi… Tư Hiền ghe vải ở Trung Lương, Tư Hiền bán nước mắm,…
 Má sốt ruột.
 – Còn ai nữa hông chị?
 – À, còn bà Tư Hiền bán đồ tươi hay ngồi bên kia kìa. Sáng nào cũng bưng rau ra nhóm chợ. Chợ dân tứ xứ mà chị ơi, tìm người như mò kim đáy biển …
 Nghe đến đó má mừng rơi nước mắt. Má cảm ơn người đàn bà rối rít. Việc bây giờ là phải neo ghe lại đây mấy hôm, chờ …Tư Hiền bán hàng bông đến để má nhận mặt.
 – Chỉ mong đúng là chú thím nó thôi ba mày à.
 – Ừ, tui cũng mong…
 Má neo ghe lại đó đến ngày thứ ba thì gặp thím, má nhận ra cái dáng quen thuộc của thím từ xa, người đàn bà có dáng người nhỏ nhắn bưng sề rau đủ loại : cà chua, dưa chuột, bí đao, khóm, bắp cải, rau tươi… vừa đi vừa rao hàng bằng lời rao thống thiết khổ nghèo một đời người. Thấy được người thân, má hớt hơ hớt hải văng nón lá chạy đến, gọi “Tư Hiền, Tư Hiền, đúng là thím rồi…”. Ban đầu thím ngoảnh vội, lấy cái nón lá tàng tàng che khuôn mặt, ôm sề rau lùi lũi bước đi. Má nhanh hơn, chạy đến níu lại. Hai người phụ nữ, khổ nghèo, thiếu thốn, nhưng trái tim vẫn rào rạt ân tình như mặt nước sông quê vẫn đong đầy theo thời gian, năm tháng.
 – Thím con Thu đừng đi.
 Người phụ nữ rưng rưng. Bây giờ Thu mới nhìn kĩ khuôn mặt thím đã già đi rất nhiều, đầy tàn hương, lưỡng quyền nhô cao lên và chằng chịt những nếp nhăn nhuốm màu sương nắng cuộc đời. Mái tóc ngang lưng thím cắt ngang vai, rối bù xơ xác. Áo chẳng đặng lành thím phải vá chi chít những mảnh vá bằng những đường kim ngang dọc.
 – Chị hai – Thím nắm tay má, khóc ròng.
 – Chú thím còn sống, chú thím mạnh khỏe, tui mừng quá.
 Hai người đàn bà gục đầu vào nhau, mừng mừng tủi tủi. Hai con người, hai thân phận đau khổ. Tóc họ đã điểm sương vì nắng mưa lận đận, đôi mắt kèm nhem mờ mờ đẫm nước, đời vắt cạn dòng nước mắt u uất, đau thương. Thím gục đầu vào vai má. Điều còn lại trên đời cuối cùng vẫn là tình người, là trái tim nặng tình nặng nghĩa vẫn lay láng như nước ngọt phù sa. Ở đó không còn những hận thù, rắp tăm và nỗi ích kỉ mù lòa của phút giây lầm lạc.
 Ba nặng nhọc từng bước, Thu theo sau.
 – Thím nó kêu thằng út về quê mình đi. Máu mủ ruột rà, bỏ sao đặng hả thím?
 – Anh hai, em … em xin lỗi.
 Ba vỗ vai thím. Mắt ba cũng rơm rớm, ba ngoảnh vội mặt cố để má không nhìn thấy dòng nước ươn ướt trên đôi mắt đang chảy xuống theo những nếp nhăn khô khốc. Vợ chồng mấy chục năm ba chưa một lần để má nhìn thấy ba khóc, chưa bao giờ. Ba mạnh mẽ như cây bần cây ổi vẫn sừng sững ngoài bến sông quê qua bao mùa mưa nắng…
 – Về đi thím. Tui với má con Thu không trách chú thím nữa.
 – Hơn mười năm rồi còn gì hả thím? – Giọng má nghẹn đắng.
 
 Căn nhà nhỏ nép mình bên bờ sông nhỏ, dưới hàng bần tháng này trái chín mùi bần thơm phức thoảng cả một khúc sông. Thím lên trước, ba má và Thu đi sau cùng. Thu chột dạ, định nói “Ở đây giống quê mình quá ba”, nhưng rồi lại thôi. Thì ở đây cũng giống xóm Thu, cũng con sông nhỏ trước nhà, cũng mấy cây bần gie ra bến nước có chiếc cầu cây nho nhỏ để người trong xóm ra ngồi giặt áo, vo gạo, chảy tóc, vớt bèo… mỗi sáng mỗi chiều. Thu chợt thấy lòng buồn man mác, gió đồng hiu hắt phảng phất hương lúa cuối mùa. Xa xa, mấy bụi cỏ mươn phất phơ trong nắng gió như những thân phận lẻ loi, đơn độc giữa đất lạ quê người…
 – Mình ơi, ra đây coi có ai tìm mình nè.
 – Tìm tui hà, chờ chút, ra liền.
 Nghe giọng, Thu đoán được đó là chú ba, người chú năm nào vẫn yêu thương Thu như con gái ruột. Vợ chồng chú thím hiếm muộn không con nên thương Thu như con của mình, có món ngon đồ lạ là réo “Thu ơi, Thu à qua chú cho cái bánh nè con”. Thu nhớ da diết.
 – Trời… Anh… Anh chị hai. Anh chị hai đi đâu đây.
 Má lặng người. Ba run run, mắt đỏ hoe.
 – Vợ chồng tui đi tìm chú chứ đi đâu. Tìm chú thím hơn mười năm nay, giờ mới gặp, anh mừng quá.
 Một thoáng lặng lẽ. Những ánh mắt của thương yêu, trìu mến khe khẽ nhìn nhau. Trong ánh măt ấy, ba, má, chú thím của Thu sụt sùi vừa mừng vừa tủi Thu cũng chạnh lòng chùi vội đôi mắt ướt mem không để cho mọi người nhìn thấy. Có lẽ Thu giống ba.
 – Vợ chồng em xin lỗi. Hồi đó…
 – Thôi chuyện qua rồi, nhắc lại chi nữa chú nó – Má trìu mến.
 – Anh với chị hai không trách chú thím đâu. Về chú ơi, đất của mình, mồ mả dòng họ mình nằm trên đó bỏ đi sao đặng?
 Chú giờ già đi thấy rõ, tóc bạc, bạc hơn cả tóc của ba. Ừ thì hơn chục năm trời rồi còn gì, đá cũng mòn huống chi. Lưng chú còng xuống, người gầy hao, da rám màu nắng gió chứa đựng khổ ải nhọc nhằn của một kiếp đời tha phương cầu thực, chạy trốn lỗi lầm của mười năm về trước. Hôm đó má nằm trên võng, Thu ngồi chơi nhà chòi với con An ngoài hè. Thím ba băng con mươn nhỏ qua đứng trước hàng ba chửi má xối xả. Má có hiểu nguồn cơn gì đâu. Thím chửi má tan nát vì nghe người ngoài chợ đồn ba má giấu mất cái di chúc của ông nội lúc qua đời, chỉ cắt cho vợ chồng chú thím cái nền nhà với công ruộng ít ỏi ngoài bờ sông. Ác nhơn hông, má có biết gì đâu. Ba đi làm đồng về nghe tiếng thím thì nhảy vội lên bờ phân trần. Chú bênh vợ xông vào đánh ba. Má cũng bị thím vện lên lưng mấy cáng chổi cọng dừa, sau này mỗi khi trời trở gió là nhát đánh ngày xưa sưng tấy lên, đau nhức rã rời. Rồi vợ chồng chú thím cũng bỏ nhà bỏ đất đi trong một đêm mưa gió não nề. Miệng người cay độc đồn đại đủ điều, rằng ba má giật đất đuổi vợ chồng chú thím đi biệt xứ. Khổ thiệt!
 Từ đó, kí ức về chú thím cũng phai dần trong Thu, chỉ còn những mảnh ghép mơ hồ, thoáng qua rồi vụt tắt như khói lam chiều.
 – Con Thu đây hả chị hai, trời nó lớn chừng này rồi.
 – Thu, lại chú ba đi con.
 – Không biết con Thu còn nhớ vợ chồng em không nữa. Thu, lại chú ba…
 Thu chạy lại, chú ôm nó, hôn lên mặt những tiếng rõ kêu. Hồi đó có cái bánh cục kẹo là nhớ tới Thu đầu tiên, sao nó nỡ quên, dẫu có những đoạn buồn trong bản nhạc vô biên gãy mãi mười mấy năm vẫn còn điệu bổng trầm da diết.
 – Anh hai, tụi em làm lụng cực khổ cuối cùng cũng có đất ở xóm Củi Đước này rồi. Đất mình thì mình ở bỏ đi sao đặng hả anh hai.
 – Nhưng… đó là nhà chú, đất đó là đất hương hỏa. Cha mẹ dưới đất chắc cũng không an lòng khi thấy chú thím bơ vơ đất lạ người cũng không quen.
 – Lạ rồi cũng quen anh hai à. Anh chị có lòng, vợ chồng em mang ơn dữ lắm. Chỉ tội em không nỡ bò đất mà về chốn cũ. Ổn định vợ chồng em về quê mình một bận, thăm mồ mả, thăm bà con. Đi chứ cũng nhớ lắm, vợ em nằm đêm khóc hoài…
 Má nhìn ba, buồn bã.
 – Thôi chú nó tính vậy coi bộ cũng được ông à. Gặp chú thím nó cũng mừng lắm rồi. Anh em ruột rà với nhau cả, phiêu bạt kì hồ riết cũng hội ngộ cả thôi. Vậy là mừng lắm rồi.
 Gian nhà nhỏ im lặng trong phút chốc, gió đồng thổi mạnh xạc xào mái lá khô khốc. Ba ngồi rít thuốc, Thu nằm chèo queo dưới ghe đánh một giấc đến khi mặt trời ngả bóng.
 Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng ba má gặp lại chú thím sau hơn chục năm bặt vô âm tính.
 Sau bận ấy, ba Thu nằm liệt giường. Một cơn tai biến đã biến ba Thu từ khỏe mạnh sang tật nguyền. Buổi chiều người trong xóm đi làm đồng hớt hơ hớt hải chạy về, gọi “Thu ơi ra coi ba mầy trúng gió hay gì mà nằm ngoài bờ ruộng kìa”. Má bật khóc băng đồng. Chạy chữa than thuốc đến cạn tiền mà sức khỏe ba vẫn không tiến triển. Con Thu sợ hãi khóc ròng. Tội con bé, có biết gì đâu. Hôm nó nghe chú bác sĩ trên huyện xuống khám cho ba nó còn hồn nhiên hỏi “Chú ơi, người thực vật là gì hả chú? Có sao không chú?”. Nghe đứt ruột. Còn má, khóc mãi cũng thôi, má trở dậy mạnh mẽ, má làm đủ mọi việc từ trong nhà đến ngoài đồng. Mùa lúa chín một mình má cắt lúa, qua mấy lần đò sang tận xóm bên kêu người sang tuốt lúa, bán lúa. Đìa mương cạn nước thì má sên đìa, đắp bờ, kiếm cá, trồng rau. Má cực trăm bề. Ba không còn nói chuyện được nữa, ba nằm đó khát nước thì “ú ớ”, đói cũng “ú ớ”. Thu đã quen với âm thanh “ú ớ” của ba. Ba đói thì thu bón cơm bón cháo, khát thì bón nước. Tội nghiệp con nhỏ, tuổi thơ nó là những tháng ngày ngồi nhà trông ba cho má đi đồng đi ruộng. Làng thương.
 Không ai còn nghĩ đến chuyện cộ xoong nồi chảo chén xuống ghe, giật máy chạy ba bốn ngày trời đến Củi Đước nữa.
 Trời trái gió, sức khỏe ba ngày một yếu dần. Trong một đêm mưa gió bão bùng, gió quật ngã đám bần ngoài bến nước kêu rắc rắc, đám bần mạnh mẽ đi qua bao mùa mưa nắng rồi cũng gãy đổ vì giông, chim mất tổ lạc bầy kêu dáo dác nghe thảm não. Đêm ấy, ba ra đi, trước lúc mất ba ú ớ mãi, mắt ba chảy xuống hai dòng nước uớt gối. Ba tắt thở. Má kêu trời. Thu khóc ròng. Ngoài trời mưa rỉ rả không dứt.
 …
 Bây giờ, Thu đã lớn, lưng má cong cong hình dấu hỏi. Thu xin được một chân y tá ở trạm y tế xã sao những tháng năm miệt mài đèn sách. Dẫu nghèo khổ thiếu thốn trăm bề nhưng má vẫn cố gắng cho con má đến trường, cắp sách như bao đứa trẻ cùng trang lứa. Ba mất, một mình má lo trong lo ngoài, nuôi con ăn học. Sức má đã kiệt như cây khô cuối mùa cạn dần nhựa sống.
 Má bảo “Ba mầy chết chư ổng ức lắm Thu à. Trước lúc mất ổng ú ớ mãi mà không nói được nên lời. Chắc ổng nhớ chú ba thím ba mầy. Cũng anh em ruột thịt không mà, đau lắm chứ”.
 Thu trở ngược dòng sông, về Củi Đước. Tìm.
 Thu cố mường tượng Củi Đước của hai mươi năm về trước, ngày ba má và Thu lênh đênh trên chiếc ghe tam bản ròng rã ba bốn ngày mới tới. Bây giờ cảnh vật khác hẳn, Thu không còn nhớ đâu là khúc sông có nhánh bần ổi gie ra Thu với tay hái chui vào mui ghe chấm muối ớt ăn còn chóp chép khen ngon. Hỏi mãi cũng đến được xóm Củi Đước khổ nghèo.
 – Dì ơi, cho con hỏi nhà Ba Thọ ở đâu ạ?
 – Ba Thọ nào ta? À, Ba Thọ có cái lưng gù gù, tóc bạc trắng, vợ bán hàng bông ngoài chợ tứ xứ hả?
 Thu mừng quýnh.
 – Dạ đúng đúng  rồi ạ. Là chú ấy.
 – Nhà ổng ở bên kia sông kìa, mà cô tìm ổng chi vậy, ổng chết hai ba năm trời rồi.
 Tim Thu nhoi nhói.
 – Dì nói sao, chú ấy, chú ấy chết rồi hả dì?
 – Ừ, nghe đâu ổng cảm gió cảm sương gì đó.
 – Còn vợ chú ấy…
 – Ổng chết chừng hơn năm trời vợ ổng cũng đi bỏ xứ. Kêu người bán đất, lấy cốt ổng rồi đi đâu không quay lại nữa. Nghe đâu đi tìm người thân của bả còn sống ở miệt Châu Giang, Mương Điền gì đó…
 – Dạ, con cảm ơn…
 Thu buồn bã, đôi chân Thu rệu rã trở về. Ừ thì đến cuối cùng cuộc đời ba và chú vẫn không được gặp nhau, không được nằm với nhau trên mảnh đất hương hỏa của tổ tiên, dòng họ. Đời nghiệt ngã trớ trêu.
 Xa Củi Đước, Thu vẫn còn đứng lặng trên bờ đê, ngoái lại. Củi Đước tiêu điều xơ xác trong nắng gió hanh hao, ngoài đồng không le hoe cỏ xước đứng lim dim phơ phất như những thân phận lạc loài giữa dòng đời mênh mông chìm nổi.
                                                                       HOÀNG KHÁNH DUY

Có liên quan

0 BÌNH LUẬN