BÊN DÒNG LÔ XANH – Tùy bút Giang Hiền Sơn

0
17

73688444a73a76169d03b689a7e785cf_1362251512

BÊN DÒNG LÔ XANH

                   Giang Hiền Sơn

 

Trong sách "Kiến Văn Lục" cụ Lê Quý Đôn đã từng gọi sông Lô là Mã Giang, có nghĩa là sông ngựa. Cái tên tiếng Hán ấy cứ ám ảnh tôi về sự mạnh mẽ như ngựa phi của dòng nước trên sông. Phải chăng, thời thế kỉ XVIII, cụ Lê đã hơn một lần lặng đứng, ngắm nhìn dòng nước xanh biếc, chảy xiết, tung bọt trắng xoá vượt qua những thác ghềnh hiểm trở trên hành trình về xuôi của con sông, thấy giống như chiếc bờm ngựa dựng đứng khi lao nhanh về phía trước mà gọi sông là vậy? Đến với đất Hà Giang, ngược theo dòng Lô giang hùng vĩ và cũng chứa đựng bao thăng trầm bi tráng của lịch sử, âm thầm tìm cách lí giải tên gọi con sông của người xưa, không biết có đúng không nhưng sông Lô mỗi khi mùa nước về tôi thấy là như thế đấy!

Sông Lô được hình thành và phát triển trên vùng đất của hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc. Sông khởi nguồn từ vùng núi cao trên 2000 m so với mặt nước biển ở Bình Viễn, Khai Hoá thuộc Vân Nam (Trung Quốc) với tên gọi là Bàn Long Giang và nhập vào đất Việt từ địa phận xã Thanh Thủy huyện Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang, rồi hợp vào sông Hồng ở ngã ba Hạc thuộc thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ. Tổng chiều dài của dòng sông là 457 km, trong đó phần trên đất Việt là 274 km. Sông Lô trên đất Việt có hai phụ lưu lớn là sông Chảy và sông Gâm, ngoài ra còn có hai phụ lưu nhỏ là sông Phó Đáy và sông Con; diện tích toàn bộ lưu vực sông là 37878 km2, phần ở Việt Nam là 22629 km2, chiếm tỉ lệ  59.74%. Kể từ khi vào đất Việt, sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam rồi lại chuyển theo hướng Bắc – Nam nên lưu vực sông cũng được mở ra trên một địa bàn núi non rộng lớn: đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2267 m ở phía Bắc; các núi đá vôi cao từ 1200 m đến 1600 m trên cao nguyên Đồng Văn ở phía Đông Nam; vùng núi cánh cung phía Đông Bắc, cánh cung sông Gâm và cánh cung Ngân Sơn. Địa hình, địa mạo dòng sông như thế, nhìn đại thể, ta thấy nó giống hình nan quạt với các dãy núi lớn qui tụ ở phía Nam và mở rộng về phía Bắc.

Hành trình sông Lô trên đất Việt được chia thành ba phần rất rõ, rõ nhất là mùa cạn. Phần thượng lưu (từ Vị Xuyên đến qua Bắc Quang) sông khá nông (từ 0.6m đến 1.5 m), hai bên bờ có nhiều núi cao, lòng sông trung bình từ 30 m đến 50m (có nơi rất hẹp – chỉ từ 4 m đến 5 m) nhưng dốc và lắm thác nhiều ghềnh (có trên 60 thác, ghềnh và bãi nổi). Phần trung lưu (từ Hàm Yên đến Tuyên Quang) sông sâu và rộng hơn (sâu khoảng từ 1 m đến 1.5 m và rộng bình quân khoảng 140 m, chỗ hẹp nhất cũng khoảng gần 30 m) nhưng thác ghềnh lại ít nguy hiểm hơn (có khoảng 30 thác, ghềnh và bãi nổi). Phần hạ lưu (từ Tuyên Quang đến Việt Trì) sông sâu từ 1.5m đến 3 m và rất rộng lòng (đoạn hẹp cũng khoảng 200 m). Với hành trình ấy, từ bao đời đến nay, dòng Lô đã và đang lặng lẽ góp phù sa vào với sông Hồng để hình thành và bồi đắp nên cả cái vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ rộng lớn, làm nên một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước ở vùng Đông Nam châu Á.

          Sông Lô. Dòng sông yêu thương. Dòng sông thi ca. Dòng sông gắn liền với những trận đánh oai hùng. Dòng sông đã từng làm cho kẻ thù phải khiếp đảm với những mồ chôn tàu Pháp mà chiến tích vẫn còn được lưu dấu dọc trên đôi bờ. Trên hành trình đi ngược dòng sông, trở về với cội nguồn nơi cực Bắc, lặng lẽ ngắm nhìn và suy ngẫm về con sông với đôi bờ trên vùng thượng lưu, tâm trạng bỗng bâng khuâng và trào dâng những cảm xúc yêu thương dạt dào.

          Qua Thác Cái, một con thác có ghềnh đá lớn chắn ngang sông, con nước về xuôi qua đây phải tung mình lên cao, quanh năm réo nước ầm ầm, nước bay trắng xoá, nguy hiểm vào loại bậc nhất trên dòng Lô xanh biếc, rồi sang đến địa phận Bắc Quang, cửa ngõ đầu tiên đến Hà Giang. Kể từ đây, Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên là ba huyện của Hà Giang được cả nước biết đến với thương hiệu cam sành. Nơi đây, vào những ngày cuối năm, dọc theo hai bờ sông Lô và các con suối, trên những vạt đồi là những vườn cam mênh mông, trĩu quả, vàng rực. Phải chăng dòng nước mát ngọt của sông Lô cùng với khí hậu, thổ nhưỡng đặc biệt của tự nhiên đã ban tặng cho con người xứ này một giống cam có một không hai, cam ấy thường gọi là cam Hà Giang. Cam Hà Giang có đặc điểm: quả to, tròn, vỏ dầy sần sùi, lõi vàng, mọng nước, có hạt, vị ngọt thanh, đậm đà; do vỏ dày nên có thể để được lâu (khoảng 20 ngày mà không bị hỏng). Cam Hà Giang ngày nay đã trở thành một thương hiệu, một đặc sản nổi tiếng, một thứ quà quí của mỗi du khách khi đi qua đất này.

          Nhắc đến đôi bờ sông Lô nơi thượng nguồn, ta không thể nào quên những năm tháng bi tráng trên đất Vị Xuyên. Đó là cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc trên biên giới phía Bắc, bắt đầu từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 cho mãi đến năm 1989 mới kết thúc, khốc liệt nhất là hồi tháng 7 năm 1984. Đất và đá Vị Xuyên khi ấy thấm đẫm máu đào của quân và dân trong cuộc vệ quốc vĩ đại cuối thế kỉ XX. Mảnh đất và dòng Lô này đã phải gồng mình hứng chịu hàng trăm ngàn quả đạn pháo các loại của quân xâm lược. Cũng trên mảnh đất bất khuất kiên cường này hàng ngàn người con ưu tú của đất nước đã anh dũng ngã xuống để bảo vệ dải đất biên cương. Có lẽ chẳng có ở đâu mà tên đất, tên núi lại được đổi tên gọi nhiều đến thế, toàn những cái tên nghe mà sởn gai ốc, dựng hết tóc gáy. Nào là “Đồi băm thịt”, “Thung lũng gọi hồn”, “Thác âm phủ”, “Ngã ba cửa tử”, “Lò vôi thế kỉ”… Và cũng còn đó, không ít những mìn, những đạn … của quân giặc còn gài lại trên đất này mà chúng ta chưa rà soát phá huỷ hết được. Bên dòng Lô xanh thẳm, cũng còn đó một nghĩa trang liệt sĩ mang tầm cỡ quốc gia – nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên, nơi yên nghỉ của hơn 1700 người con ưu tú của đất Việt đã mãi mãi nằm lại đất này. Bên dòng Lô  giang, cũng còn đó biết bao liệt sĩ khác vẫn nằm ở khắp mọi nơi trong lòng đất mẹ, bên khe đá, dưới thung sâu của đất Vị Xuyên mà ta chưa tìm thấy được. Các anh sống bám đá, chết lại hoá thân vào đá, thề quyết tử cho tổ quốc sinh. Hồn thiêng của các anh đã hoà vào sông núi để làm nên dáng hình xứ sở; làm nên đất nước muôn đời mùa xuân. Tấm gương anh dũng hi sinh để bảo vệ đất Việt yêu thương của các anh mãi mãi là tấm gương sáng cho muôn đời con cháu noi theo. Đó chính là tinh thần độc lập dân tộc; là đỉnh cao của chủ nghĩa yêu nước, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng … Mới đây, để tưởng nhớ và ghi nhớ công lao của các liệt sĩ, đồng đội của các anh, Ban Liên lạc Hội cựu chiến binh Mặt trận Vị Xuyên đã tổ chức phát động ủng hộ và xây dựng xong nhà tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ (khánh thành ngày 26 tháng 5 năm 2016). Đây là một công trình lớn và rất có ý nghĩa, đúng như phát biểu của ông Trương Minh Tuấn (Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông): "Đây là công trình có ý nghĩa to lớn thể hiện sự tri ân với các anh hùng liệt sỹ đã hi sinh bảo vệ Tổ quốc. Nó không chỉ khẳng định công lao to lớn của các anh mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với các thế hệ trẻ". Bên bờ sông Lô vẫn còn đó “sóng căm hờn vút cao, sóng lấp lánh vàng sao ngàn chiến sĩ”; trên dòng sông Lô đã ghi những “sóng nước biếc trôi đầy sông bao đám xác thù”…  Sống đánh giặc, thác vẫn đánh giặc. Ở lại bên dòng sông xanh biếc, ngàn năm nghe sóng hát du, hẳn là hồn thiêng các anh vẫn đang ngày đêm trấn giữ ải Bắc; bảo vệ, che chở cho muôn dân đất Việt.

          Chiến tranh đã đi qua, vết thương vẫn còn đó nhưng cuộc sống cũng dần được hồi sinh. Thị xã Hà Giang xưa nay đã trở thành Thành phố Hà Giang. Một thành phố trẻ nơi tuyến đầu của Tổ Quốc. Thành phố bên dòng sông Lô mềm mại thướt tha. Bao trùm lên cả thành phố nhỏ bé, xinh xắn, đáng yêu này là một màu xanh ngút ngàn, màu xanh của núi, màu xanh sông, màu xanh của phố, của vườn tược, cây cối…  Có lẽ, trên đất nước ta, hiếm có nơi nào mà thiên nhiên ưu ái nhiều như ở cái thành phố vùng biên này đến thế, núi sông hùng vĩ thơ mộng, trùng trùng điệp điệp. Cùng với tạo hoá, những núi, những sông nơi đây còn được người xưa thêu dệt nên không ít những huyền thoại, nghe mà nao lòng, thích thú. Những hôm đẹp trời, thành phố quyến rũ đến mê hồn. Những dải mây bồng bềnh quấn quyện núi non, giống như tranh vẽ. Dòng sông, con suối uốn lượn như phượng múa rồng bay. Cùng với muôn vàn cỏ cây, hoa lá cũng thi nhau đua sắc, toả hương ngạt ngào, thơm ngát. Hai cây cầu (Yên Biên 1 và Yên Biên 2) bắc qua dòng sông giống như vòng tay sơn nữ ôm ấp thành phố ngàn thương. Phía bên đằng Đông của dòng Lô là núi mỏ Neo, phía bên đằng Tây của dòng Lô là núi Cấm. Sông ôm núi, núi che sông. Hoà cùng với núi, với sông là những ngôi nhà cao tầng mọc lên san sát bên các đường phố trải nhựa phẳng mịn, quanh co uốn lượn làm cho thành phố càng sinh động. Đứng từ xa ngắm lại ta thấy núi mỏ Neo, núi Cấm sừng sững vươn lên trời xanh đối xứng như hai toà tháp uy nghi như thể để báo hiệu cho mọi người biết: Đây là phố núi. Đây là thành phố Hà Giang nơi tột đầu cực Bắc. Đặc biệt, giữa lòng thành phố trẻ ấy, khu di tích tượng đài Bác Hồ bằng đá trên quảng trường 26/3, phường Nguyễn Trãi hiện lên như một bông hoa đẹp giữa ngút ngàn màu xanh của cây cối. Ngắm tượng Bác đứng giữa hai cháu thiếu nhi và bốn chiến sĩ, đồng bào các dân tộc ta lại nhớ tới hình ảnh của người đang quây quần bên đàn con cháu khi xưa (chính tại nơi này, ngày 26/3/1961, Bác Hồ đã đứng nói chuyện với với gần 17.000 cán bộ, chiến sĩ, nhân dân các dân tộc Hà Giang). Bác đứng đấy gần gũi, hồn hậu và bao dung. Bên người, cùng con cháu là hình ảnh phù điêu những thửa ruộng bậc thang, những dải núi cao với mây luồn thác đổ … vừa lại gợi cho ta sự đầm ấm, êm vui vừa tái hiện lại được những hình ảnh đặc trưng của đất trời sông núi Hà Giang. Cảnh đấy nhưng người đã đi xa. Đứng trên quảng trường bên tượng đài Bác ta không khỏi ngậm ngùi, bâng khuâng nhớ Bác.

          Đây Hà Giang. Đây là nơi “có đường đi trên mây lên tới cổng trời”. Đây là nơi con sông Lô chảy vào đất Việt, “có rừng cây thiên nhiên xanh biếc một màu”. Hà Giang – Thành phố trẻ nơi biên cương địa đầu cực Bắc. Thành phố của tình yêu và nỗi nhớ. Một Hà Giang mến yêu, một Hà Giang mến thương … sẽ còn mãi trong ta!

  Giang Hiền Sơn      

Trường THCS Nguyễn Văn Huyên, Hoài Đức, Hà Nội

0 BÌNH LUẬN